Danh mục

NGUYỄN TRỌNG XUẤT - Ngày: 08/07/2021

10 NĂM, MỘT CHẶNG ĐƯỜNG CÓ Ý NGHĨA

                         CỦA BỘ “LỊCH SỬ NAM BỘ KHÁNG CHIẾN”

                                                   (2010-2020)

 

 

Bộ “Lịch sử Nam Bộ kháng chiến” được bắt đầu thực hiện từ năm 2002. Tám năm sau bộ sử được hoàn thành, công bố năm 2010 (NXB CTQG-ST, Hà Nội), tính  đến nay đã tròn 10 năm.

10 năm ra mắt bạn dọc của bộ “Lịch sử Nam Bộ kháng chiến” là thời gian không dài lắm nhưng đã đánh dấu những quan điểm mới, những nỗ lực mới trong nghiên cứu sử học : Khi thực hiện bộ “Lịch sử Nam Bộ kháng chiến”, cố Chủ tịch Hội đồng chỉ đạo biên soạn Võ Văn Kiệt và nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng, - chủ biên của công trình - các đồng chí đã chỉ rõ: “Nếu công trình “Lịch sử Nam Bộ kháng chiến” này có chỗ nào không hoàn toàn thống nhất với các đánh giá – thậm chí kết luận – trước đây cũng là chuyện bình thường, là cố gắng lao động của các thế hệ viết sử”… Viết sử là “ôn cố”, không có nghĩa đơn thuần là vẽ lại quá khứ mà tự thân đã nhằm “tri tân” – nhắc cũ để tìm hiểu cái mới”.*

“Bài học của quá khứ góp phần soi sáng hành trình đến tương lai”, bài học được cố Chủ tịch Võ Văn Kiệt nhấn mạnh trong Lời nói đầu của bộ sách. Như vậy, quan điểm của Hội đồng chỉ đạo và Ban biên soạn trong biện soạn lịch sử, dù là lịch sử của vùng đất Nam Bộ nói riêng, hay lịch sử Việt Nam nói chung, các đồng chí đã tuân thủ đúng nguyên tắc: Viết sử chính là chỉ ra mối quan hệ bản chất, biện chứng của sự kiện, con người lịch sử .  Cho nên viết sử thực chất là chiến đấu để bảo vệ chân lý, sự thật lịch sử. Bộ “Lịch sử Nam Bộ kháng chiến” sau khi được công bố, mong sẽ mở ra những khơi gợi  về nhiều đề tài cần được tiếp tục nghiên cứu, đi sâu vào các khía cạnh cụ thể, thể hiện đúng quan điểm toàn diện, toàn bộ, trung thực, khách quan trong nghiên cứu lịch sử, tức đi sâu vào tất cả các sự kiện chính trị - quân sự - kinh tế - văn hóa – dân tộc … với những chứng tích cụ thể.

Chúng ta đều biết, cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp bắt đầu từ Nam Kỳ (1859). Rồi sau chiến tranh thế giới II, khi VN đã giành được độc lập qua Cách mạng Tháng 8/1945, Pháp trở lại hòng tái chiếm thuộc địa Đông Dương. Cuộc kháng chiến của VN chống thực dân Pháp kéo dài 9 năm, kết thúc bằng Hiệp định Genève (21/7/1954) sau chiến thắng Điện Biên Phủ  (7/5/1954). Từ 1954, Mỹ nối tiếp Pháp, thực hiện “chủ nghĩa thực dân mới” ở Nam Việt Nam, cho đến ngày Mỹ thất bại hoàn toàn 30/4/1975 …– Tính chung, cuộc kháng chiến của VN chống thực dân, đế quóc xâm lược đã kéo dài hơn một thế kỷ (1859 – 1975 = 117 năm)

Lịch sử chống ngoại xâm của VN đã diễn ra liên tục như vậy, được ghi chép theo quan điểm khách quan, trung thực, khoa học …như những nhà chủ biên bộ “Lịch sử Nam bộ kháng chiến” đã xác định.

          Một thành viên trong Hội đồng Khoa học nghiệm thu cấp Nhà nước, đã nhận xét trong bản phản biện của ông tại Hội nghị:

     “Công trình này không chỉ giới hạn lịch sử của một không gian địa lý: Nam B, mà quan trọng hơn rất nhiều là nó đã đề cập đến những nội dung căn bản nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam hiện đại, gắn với sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ nền độc lập và thống nhất quốc gia. Do vậy cần nhận thức và đánh giá giá trị của công trình này như một đóng góp to lớn vào bộ quốc sử mà đáng tiếc cho đến nay vẫn chưa hoàn chỉnh; và riêng với giai đoạn lịch sử hiện đại thì cho đến nay vẫn chưa được biên soạn với tầm vóc xứng đáng… Công trình lại được một đội ngũ ưu tú những nhà hoạt động thực tiễn lão thành tham gia, có thể hiểu đây là cơ hội cuối cùng của sử học còn khai thác được những nguồn sử liệu sống tham gia viết sử, đó cũng là những chất liệu vô giá mà sử học sau này không còn cơ hội để khai thác.

          Khi bước vào lĩnh vực sử học đầy khó khăn này, tập thể tác giả bộ Lịch sử Nam Bkháng chiến đã xác định quan điểm, như đã được cố chủ tịch Võ Văn Kiệt và chủ biên Trần Bạch Đằng nêu bật ở đầu công trình:

        “Chúng tôi xem “Lịch sử Nam Bkháng chiến” là một công trình cần tiếp tục hoàn chỉnh với nhiều công trình nữa, từ những góc nhìn khác nhau… Nỗ lực chủ quan của Hội đồng Chỉ đạo dù sao cũng giới hạn. Khả năng của Ban Biên soạn nhất định thấp hơn hiện thực quá lớn lao của một giai đoạn lịch sử cô đặc vấn đề, sự kiện, con người… đánh dấu một giai đoạn rất đậm nét và cực kỳ phong phú của lịch sử Việt Nam và của thế giới đương đại… Diễn biến cùng bài học rút ra từ Lịch sử Nam Bộ kháng chiến thật dồi dào. Hy vọng công trình tập thể - mà cả Hội đồng Chỉ đạo, Ban Biên soạn, những nhà cách mạng lão thành, những nhà sử học và chuyên môn cùng các ban nghiên cứu lịch sử cách mạng địa phương trực tiếp tham gia – sẽ đền đáp chừng nào sự hy sinh của đồng bào và đồng chí đi trước.”…                                                      

        Trong quá trình thực hiện công trình, Chủ biên Trần Bạch Đằng đã đi xa, trước khi bộ Lịch sử Nam bộ kháng chiến hoàn thành hơn 2 năm.(2006). Chủ tịch Hội đồng chỉ đạo biên soạn Võ Văn Kiệt cũng qua đời sau đó 1 năm (2007)

 

 

         

Thế nhưng tư tưởng chỉ đạo của các đồng chí vẫn được anh em trong Ban biên soạn công trình tuân thủ nghiêm túc, và đã nối tiếp, - phần nào có mức chủ động, sáng tạo - trên bước hoàn thiện công trình theo tâm nguyện của các anh.

     

  Công trình Lịch sử Nam Bộ kháng chiến do Võ Văn Kiệt và Trần Bạch Đằng lãnh đạo biên soạn, đã được anh em trong Ban biên soạn nối tiếp tinh thần chỉ đạo của các anh, đã hoàn thành năm 2009, được Hội đồng Nghiệm thu cấp nhà nước đánh giá đạt chất lượng xuất sắc. Công trình được Hội đồng chỉ đạo xuất bản Trung ương quyết định công bố năm 2010, được nhận Giải thưởng khoa học Trần Văn Giàu (hai lần 2006-2008) và Giải thưởng sách hay năm 2012 của Hội đồng giải thưởng sách Việt Nam (Bộ Thông tin - Truyền thông).

       Trước thành công của bộ LSNBKC, đã có một số  ý kiến trái chiều:

     1). Ý kiến của Ts N.Đ.X. (khoa Sử một trường ĐH tại TPHCM)

       Trong bài viết “Lịch sử Nam bộ kháng chiến từ góc nhìn tính cách Nam bộ” đăng trong tuyển tập “Những vấn đề lịch sử” (Nhiều tác giả. NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2017), Ts X. có nhận xét về bộ sách“Lịch sử Nam Bộ kháng chiến”. Tác giả nêu một số vấn đề mà ông cho rằng có những “độ lệch” khi xem xét lịch sử “từ góc nhìn tính cách Nam Bộ”. Ts X. viết: “Trên những tầm sự kiện và kiến giải có thể nhận thấy những (hạn chế về) “độ sâu” và “độ lệch” khi thể hiện tính cách Nam Bộ” (Sđd, trang 373). Ý tưởng “Nam Bộ đi trước về sau” được nhấn đậm nét trong luận điểm “Nam Bộ đứng lên chiến đấu bằng sức của bản thân mình lúc chưa có sự chi viện và cùng chiến đấu của cả nước”…. Tựu trung Ts. X. cho rằng bộ “Lịch sử Nam Bộ kháng chiến” (LSNBKC), vì quá nhấn mạnh tính đặc thù Nam Bộ nên đã hầu như xem nhẹ vai trò quyết định chủ yếu của cả nước trong kháng chiến chống Pháp, của miền Bắc xã hội  nghĩa, hậu phương lớn của tiền tuyến miền Nam trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

     Có lẽ Ts X. chưa đọc kỹ bộ LSNBKC, vì bởi trong toàn bộ tác phẩm LSNBKC, các tác giả biên soạn bộ sử đều nhấn mạnh vai trò của cả nước đối với cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, - mà đúng ra phải nói : đó là “cuộc kháng chiến của cả nước Việt Nam bắt đầu từ Nam Bộ “…

       Trong chương Kết luận phần lịch sử kháng chiến chống Pháp, bộ LSNBKC đã khẳng định: “Nam Bộ kháng chiến với nhiều đặc thù của địa phương vẫn là kết tinh của trí tuệ, tâm tưởng dân tộc Việt Nam, là kết quả của quá trình kế thừa và phát triển của văn hóa Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ” (LSNBKC, sđd, tập 1, tr. 588).

      Trong phần Tổng luận, bộ sách đã phân tích : “Trong cả hai cuộc kháng chiến Nam Bộ đứng  đầu sóng ngọn gió, đã cùng cả nước “đem hết tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải bảo vệ độc lập tự do thống nhất đất nước”; và trong trận quyết chiến cuối cùng đã mưu trí và kiên cường làm phá sản mưu đồ của địch hy vọng bám mảnh đất này đến cùng để chống lại cách mạng….

      “ Cách mạng Nam Bộ đi trước về sau, được Chủ tịch Hồ Chí Minh biểu dương là Thành Đồng Tổ Quốc. Nam Bộ làm được điều đó vì hai lẽ:

• Một là, Nam Bộ có cả nước, cả dân tộc tiếp sức, bởi Nam Bộ là của cả nước, “Vì cả nước cùng cả nước”.

• Hai là, Nam Bộ có những con người đi lên từ văn minh sông Hồng, khổ công khai phá vùng đất mới, sớm đi vào nền kinh tế hàng hóa, trưởng thành qua tiếp cận nền văn minh phương Tây (với thân phận người dân mất nước), từ vị thế địa chính trị của mình tích tụ thêm chất liệu mới qua hai cuộc đọ sức ác liệt với kẻ thù có trình độ công nghiệp khoa học kỹ thuật rất cao, tức qua thực tiễn mà ngày càng hoàn thiện tính cách của con người Nam Bộ trên cái nền văn hóa Việt Nam. Đó là những con người của một vùng đất có sức hút, sức chuyển hóa và sức lan tỏa độc đáo, một vùng “động lực phát triển” luôn năng động sáng tạo, một mảnh đất đặc thù của Tổ quốc Việt Nam.”

     Tổng luận nhấn mạnh:

• “Mỗi địa phương trong cả nước, khi góp phần mình vào sự nghiệp chung đã luôn đặt mình trong mối quan hệ máu thịt với cả nước, bởi chiến công của mỗi địa phương, mỗi tập thể, mỗi cá nhân đều là kết quả của sự phối hợp làm nên sức mạnh chung, là kết quả của sự cộng hưởng của nhiều nhân tố cấu thành.

• Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, khi Nam Bộ bắt đầu kháng chiến thì cả nước dấy lên phong trào ủng hộ Nam Bộ: những đoàn quân Nam tiến, những bộ đội hải ngoại tiếp sức cho quân dân Nam Bộ. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ gặp khó khăn, Hiệp định sơ bộ 6/3/1946, Tạm ước 14/9/1946 đã đem đến cho Nam Bộ sự trợ sức vô cùng quý giá, vừa là liều thuốc hồi sinh cho cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, vừa là điều kiện cho Nam Bộ tiến công địch bằng đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang, mà sau này trong kháng chiến chống Mỹ phương thức tiến công đó đã trở thành quy luật của cách mạng miền Nam. Trận Điện Biên Phủ kết thúc 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, dù diễn ra ở Tây Bắc nhưng là niềm tự hào của mỗi con người Việt Nam dù sống ở bất cứ nơi đâu, kể cả định cư ở nước ngoài, vì nó là biểu trưng chói lọi về khả năng chiến thắng của một dân tộc nhỏ bé bị áp bức bóc lột đã kiên quyết, dũng cảm chống lại chủ nghĩa đế quốc hùng mạnh, tàn bạo.

• Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhân dân Nam Bộ thừa hưởng di sản tinh thần quý giá của 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp: sự thống nhất về chính trị và tinh thần của toàn dân Việt Nam, “Nam Bắc một nhà”, tinh thần và tình cảm đó thể hiện xuyên suốt 21 năm trong khẩu hiệu của nhân dân miền Bắc: “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Cũng như tấm lòng của nhân dân miền Nam đối với cả nước: “Miền Bắc gọi Miền Nam trả lời”… Dù trải qua bao thăng trầm, dù ở mỗi bước ngoặt hiểm nghèo của chiến tranh, Tình Nghĩa Bắc Nam vẫn sắt son một dạ. Những địa danh gây kinh hoàng cho kẻ thù nhưng lại khơi niềm phấn khích trong quân dân cả nước: Khe Sanh, Đường 9, A Sầu, A Lưới, Bác Ái, Nam Ngãi, Bình Phú, Đắk Tô, Ia-Drang, Lộc Ninh, Tam giác sắt Củ Chi, Bù Đăng, Phước Long, Chiến khu D, Dương Minh Châu, Đồng Tháp, U Minh…

• Cho nên nói đến Nam Bộ, nói đến miền Nam trong trang sử kháng chiến hào hùng 30 năm, điều chính yếu là nói ân tình của cả nước đối với từng mảnh đất vốn là một bộ phận máu thịt của cơ thể toàn dân tộc, tức mạch nguồn vô tận cho từng địa bàn, từng con người, vừa giúp mình vượt qua được những thách thức khắc nghiệt nhất trong quá trình trưởng thành, vừa là động lực thúc đẩy mình góp sức cùng cả nước làm nên vòng hoa Chiến Thắng”. (LSNBKC, tập 2, tr. 1078-1080).

*  Riêng giai đoạn 11 năm (1954-1965), “Nam Bộ hầu như đứng trên đôi chân của chính mình – có sự trợ giúp của bộ khung cán bộ gốc Nam Bộ trở về Nam chiến đấu “: – chính tài liệu Lầu Năm Góc đã công nhận :”Cho đến 1965, cuộc nổi dậy ở Nam VN chủ yếu do lực lượng tại chỗ thực hiện” (The Pentagon Papers, New York Times - 1972)*(xem chi tiết ở phần Chú thích)

     2).- Loại ý trái chiều khác là ý kiến của một số tác giả Mỹ, trong đó đáng chú ý có ý kiến của ông Pierre Asselin, giảng viên ĐH Hawaii Pacific. Trong Bản điểm sách (book review) về bộ “Lịch sử Nam Bộ kháng chiến” tại cuộc tọa đàm do Woodrow Wilson Center tổ chức tại Washington DC ngày 26/9/2013.

Ông Pierre Asselin viết :…. Các nghiên cứu gần đây của giới học giả  phương Tây đã chứng minh, cuộc cách mạng Việt Nam là một phần không thể tách rời  của “ Cuộc chiến tranh lạnh toàn cầu”, của  bối cảnh quốc tế được đình hình  bởi sự chia cắt do cuộc cạnh tranh  giữa Liên Xô và Mỹ , xung đột giữa  Trung Quốc và Liên Xô và phong trào đấu tranh chính trị ở Thế giới Thứ Ba tạo ra.

(Nguyên văn tiếng Anh :…. As recent scholarship in the West has demonstrated, the Vietnamese revolution was indeed integral part of the “global Cold War,” of the international environment shaped by the intersection of the Soviet-American rivalry, the Sino-Soviet dispute, and Third World political activism. (Nguồn :Kỷ yếu Trung tâm Woodrow Wilson Center, Washington DC, tháng 9/2013)

      Tựu trung, theo P. Asselin, “Bộ LSNBKC đã mặc nhiên xác nhận kết luận đã có của các nhà sử học phương Tây về nguyên nhân của cuộc chiến tranh”(tức cuộc chiến tranh ủy nhiệm từ 2 phía).

      Phản bác lại luận điểm của P.Asselin, chúng tôi đã có bài trình bày tại buổi tọa đàm ở Washington DC nói trên (bản tiếng Anh:” Some clarifications on the book review by Professor Pierre Asselin (Hawaii Pacific University - Speech by Mr. Nguyen Trong Xuat, Secretary-General of the Editorial Board of The History of the Southern Viet Nam’s Resistance War at the discussion meeting about the book in Washington, D.C. (Woodrow Wilson Center) on 9-29-2013)). Toàn văn bản tiếng Việt được đăng trong “Một Thời Làm Báo” tập 11 năm 2014..

     Dưới đây là một vài ý chính trong bài phản bác trên:

…1/ Lịch sử là một dòng chảy liên tục các sự kiện:

 Hôm nay chúng ta thảo luận về giai đoạn 1954-1975 trong cuộc kháng chiến ở Nam Bộ Việt Nam. Tuy nhiên, lịch sử là một dòng chảy liên tục các sự kiện, do đó nếu chúng ta tách rời giai đoạn 1954-1975 ra khỏi dòng chảy đó thì chúng ta sẽ không hiểu nó. Có thể nói giai đoạn 1954-1975 là sự nối dài của giai đoạn 1945-1954 trước đó. …

2/ Muốn xác định tính chất (nature) của 1 cuộc chiến tranh, trước hết phải tìm hiểu các nguồn gốc (origins) hay các nguyên nhân (causes) của cuộc chiến tranh ấy.

2.1. Cuộc chiến VN trong giai đoạn 1945-1954 : Là cuộc chiến tranh nhằm tái chiếm thuộc địa cũ của Pháp, được Mỹ tiếp sức.(Thường được gọi là giai đoạn kháng chiến chống Pháp)

2.2.  Cuộc chiến tranh VN trong giai đoạn 1954-1975 : Là cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ  khi hất chân Pháp sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Pháp phải ký Hiệp định Geneva, chấm dứt chiến tranh.(Thường được gọi là giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước)

Đương nhiên, khi trình bày về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ, giai đoạn 1954-1975, các tác giả bộ “Lịch sử Nam Bộ kháng chiến” phải dẫn giảỉ bối cảnh thế giới khi cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược nổ ra và kết thúc sau 21 năm. Trình bày  bối cảnh thế giới trong một giai đoạn lịch sử ngắn (21 năm) của cuộc kháng chiến Việt Nam dài hơn thế kỷ (117 năm) không bao giờ và không thể được xem là có hàm ý, -  theo cách lý giải của P. Asselin, - thay đổi bản chất phi pháp, phi nghĩa, phi nhân của cuộc xâm lược đó.

 

“Chúng tôi khẳng định tính chất của nó,-  trước sau dài 117 năm, tính từ năm Pháp bắt đầu xâm lược VN (1859),- là một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, chống ngoại xâm, vì độc lập và tự do,...Một đoạn trình bày bối cảnh quốc tế của một giai đoạn cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc (giai đoạn chống Mỹ 1954-1975), không thể được hiểu là công nhận tính chất khác, phủ nhận bản chất trước sau như một của nó : Nó không phải là “chiến tranh ý thức hệ” (ideological war), “chiến tranh ủy nhiệm” (proxy war) hay “một bộ phận của chiến tranh lạnh”, như cách diễn giải của ông P. Asselin

 

        *. Trên lĩnh vực điện ảnh, vừa qua, một số người Mỹ đã cố gắng làm một bộ phim tài liệu 10 tập về “Cuộc chiến tranh Việt Nam” (The Vietnam War,- 2017- của các nhà làm phim Ken Burns và Lynn Novick), nhằm biện minh cho chính quyền nước Mỹ, để vớt vát phần nào bộ mặt truyền thống dân tộc Mỹ đã bị hàng loạt những sai lầm của cuộc Chiến tranh Mỹ xâm lược Việt Nam làm tổn thương nặng nề, mà người ta thường gọi là “hội chứng Việt Nam” ở Mỹ.

* Chuyện một số người Mỹ “tự biện minh” theo cách nhìn lệch lạc chắc không gì khó hiểu. Tuy nhiên điều đáng nói hiện nay là ngay trong giới sử học ở trong nước  lại xuất hiện một số người có xu hướng đòi “viết lại lịch sử”. Một số người tung ra luận điểm: “Chủ nghĩa Phan Châu Trinh cao hơn tư tưởng Hồ Chí Minh”, nhằm chống lại chủ nghĩa Mác-Lênin, chống lại quan điểm mà họ gọi là  “cách mạng bạo lực”. Từ quan điểm lệch lạc đó, một số người muốn phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc kháng chiến thần thánh chống xâm lược. Thậm chí có người còn cho rằng Việt Nam “nên học Mỹ” (! ?), xem lại lịch sử của mình để chỉ ra sự sai lầm trong việc chọn con đường cách mạng bạo lực. Thực chất của luận điểm này là họ đánh đồng “kẻ gây chiến tranh xâm lược” với cả một dân tộc buộc phải cầm vũ khí để chống lại cuộc chiến tranh xâm lược. Nói cách khác đó là sự đánh tráo khái niệm mà thâm ý là biện minh cho tội ác của thực dân đế quốc đối với đất nước và dân tộc ta, là sự phản bội trắng trợn công lao kháng chiến chính nghĩa của dân tộc…

Cho nên, kỷ niệm 10 năm xuát bản bộ LSNBKC là dịp chúng ta khẳng định những vấn đề cơ bản trong nguyên tắc nghiên cứu lịch sử, đồng thời tiếp tục mở rộng những vấn đề mà LSNBKC khơi gợi cho những nhà khoa học, những vấn đề mà cho đến nay người dân vùng đất mới của Tổ quốc bức xúc đòi hỏi chúng ta tiếp  tục đi sâu khám phá.

Những lĩnh vực đang còn chờ những công trình nghiên cứu có giá trị, phải chăng là mấy điểm chủ yếu sau  :

1. Chúng ta cần khẳng định tính liên tục, tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc mà nhân dân ta tiến hành trong hơn một thế kỷ (tứ năm quân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ 1859 đến 1975 =117 năm), Khẳng định thêm nhiều lần, một cách sâu sắc hơn, thuyết phục hơn, bằng những sự kiện lịch sử cụ thể, phản ánh bản chất của cuộc kháng chiến… Qua nhiều thời kỳ, ngọn cờ khởi nghĩa, giải phóng dân tộc có thể mang màu sắc văn thân, sĩ phu, cần vương… hay nhân sĩ, trí thức,- hoặc sau này dưới ngọn cờ của Đảng của giai cấp công nhân… - nhưng khát vọng Độc lập dân tộc, đòi quyền được sống Tự do, mưu cầu Hạnh phúc của nhân dân Việt Nam chỉ là một!

2. Chúng ta tiếp tục nghiên cứu để bảo đảm tính khách quan, trung thực, trên quan điểm khoa học, duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quan điểm toàn diện, tổng thể… khi thể hiện các hiện tượng chính trị - quân sự - kinh tế - văn hóa – dân tộc… trong kháng chiến đúng với bản chất của các sự kiện.

3. Chúng ta tiếp tục phân tích sâu thêm nội hàm chính trị, yếu tố căn bản quyết định kết cục kháng chiến, (kết hợp nhuần nhuyễn với yếu tố quân sự, nhân tố quyết định trực tiếp thắng lợi của kháng chiến), thể hiện trên tất cả các mặt đấu tranh, thể hiện sự phối hợp linh hoạt trên ba vùng chiến lược: nông thôn đồng bằng, rừng núi và đô thị. Các yếu tố cơ bản đó, vừa thể hiện tinh thần tiến công cách mạng của những người yêu nước, vừa là phương thức đấu tranh chính trị - vũ trang song song rất bản lĩnh, trí tuệ của đường lối “chiến tranh nhân dân”, đưa cuộc kháng chiến liên tục giành thắng lợi. Hơn thế, cuộc kháng chiến bao gồm cả phong trào quần chúng các giới phản kháng kẻ xâm lược, diễn ra ngay ở trung tâm đầu não chỉ huy chiến tranh của địch, làm sáng ngời chính nghĩa của cuộc kháng chiến. Cuộc chiến tranh giải phóng được toàn thể nhân dân Việt Nam “Thề cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, được nhân dân tiến bộ khắp thế giới ủng hộ (“Việt Nam là lương tâm của loài người” , theo đánh giá của Jean Paul Sartre, nhà triết học Pháp), trong đó có nhân dân Mỹ, gồm nhiều nhà sử học, trí thức tiến bộ Mỹ, như Gabriel Kolko, David Marr, Noam Chomsky, George McTurnan Kahin, Michael Maclear, Stanley Karnow, Marilyn Young, Mark BradleyNick Turse …,,- một điều kỳ diệu mà không một cuộc kháng chiến nào trên thế giới làm được, tính đến nay và có thể mãi về sau.

Phải nhận rằng chúng ta chưa có công trình nghiên cứu tầm cỡ, phản ảnh thật sâu sắc hiện tượng chính trị độc đáo này trong lịch sử thế giới đương đại..

4. Trong khi nghiên cứu để chỉ rõ bản chất của các sự kiện lịch sử, chúng ta kiên quyết phản bác luận điểm chia cắt các giai đoạn trong lịch sử hơn một thế kỷ Việt Nam chống xâm lược, tô vẽ cho chế độ Sài Gòn - do thế lực xâm lược dựng lên - là một “thực thể chính trị” để xuyên tạc sự thật. Kẻ địch hy vọng từ ý đồ gán cho cuộc kháng chiến chống Mỹ tính chất “nội chiến” để thực hiện hiệu quả hơn âm mưu chia rẽ dân tộc, trong khi thực chất cuộc chống Mỹ cứu nước chính là sự nối tiếp những cuộc kháng chiến chống xâm lược trước đây. Lịch sử là một dòng chảy liên tục; âm mưu chia cắt giả tạo thời kỳ kháng chiến, đánh đồng hiện tượng với bản chất là thủ đoạn thường thấy của kẻ chuyên dùng trá ngụy để che dấu tội ác đích thực của chúng.

 

5. Về hiện tượng “tự diễn biến”, “tha hóa” của một số người trong giới sử học Việt Nam, thực chất là tiếp tay cho thế lực thù địch, chia rẽ dân tộc, phá hoại hòa hợp hòa giải dân tộc - giới nghiên cứu lịch sử chân chính cần những bài phân tích sâu về nguyên nhân của hiện tượng chuyển hóa tư tưởng ở một số người trong bối cảnh tình hình hiện nay, chỉ ra nguyên nhân sâu xa của quá trình diễn ra các hiện tượng này. Phải chăng đó là tác hại của “chủ nghĩa cá nhân” -  (mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần cảnh báo) - trong số người xem nhẹ sự tu dưỡng lý tưởng, phẩm chất cách mạng trong điều kiện Đảng cầm quyền ? Từ đó rút ra những bài học về tăng cường công tác chính trị-tư tưởng, kết hợp với chấn chỉnh cơ chế quản lý cán bộ và công tác cán bộ, phục vụ hiệu quả cho “Chiến lược xây dựng con Người mới”. 

Cho nên, kỷ niêm 10 năm ngày công bố công trình “Lịch sử Nam Bộ kháng chiến”, điều đọng lại trong chúng ta phải chăng là : Những thế hệ nghiên cứu và ghi chép lịch sử hiện nay nhất định phải nâng cao hơn nữa tính chiến đấu bảo vệ sự thật lịch sử, bảo vệ chân lý./. .

 

                                                        Nguyễn Trọng Xuất

                                             Nguyên Tổng thư ký công trình LSNBKC

 

Chú thích :

* Những điều do chính phía Mỹ thừa nhận (Giai đoạn kháng chiến chống Mỹ 1960-1965):

 Tài liệu mật Lầu Năm Góc (The Pantagon Papers) do báo New York Times ấn hành.

+  Cơ quan tình báo quốc gia đặc biệt Mỹ (Special National Intelligence) ngày 5/10/1960 đã viết: “Từ 80 đến 90% trong số ước lượng 17.000 Việt Cộng được tuyển mộ tại chỗ và có rất ít bằng chứng cho thấy Việt Cộng dựa vào yểm trợ từ bên ngoài ( trang 98).

+ Phân tích tình báo Mỹ năm 1964 cho rằng : Nguồn sức mạnh trước tiên của cộng sản ở Nam Việt Nam mang tính tại chỗ (trang 242); Ném bom miền Bắc không có hiệu quả lâu dài đến tình hình Miền Nam (trang 242).

+ Phân tích của CIA ngày 9/6/1964 khẳng định:” Căn nguyên thực sự của sức mạnh của Việt Cộng nằm ở Miền Nam (trang 254)..

+ Báo cáo về sức mạnh của lực lượng quân sự MTDTGP được báo cáo tiếp tục tăng trưởng – lên tới 16.000 người theo tình báo Mỹ, từ 1960; trang bị bằng vũ khí tự chế hay lấy được (của đối phương) , hầu hết là người Miền Nam (trang 79).

+ Trích từ tác phẩm của Jerald A. Combs,” Lịch sử chính sách ngoại giao Hoa Kỳ”(The History of American Foreign Policy) : “Đến thời điểm này (1965), cuộc nổi dậy trong Nam chủ yếu là tại chỗ, và chiến đấu với  vũ khí Mỹ nhiều hơn là với vũ khí do  Nga hoặc Trung Quốc  viện trợ.”(trang 402) .

logo logo