Danh mục

Nguyễn Trọng Xuất - Ngày: 31/01/2020

BÁC HỒ - MUÔN VÀN TÌNH THÂN YÊU!

                                                                             Nguyễn Xuân Lương

Năm mươi năm trước, vào ngày 2/9/1969, đúng Lễ kỷ niệm 24 năm ngày Tết Độc lập, thời tiết khắc nghiệt. Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng trời mưa không ngớt, nước sông Hồng dâng cao. Đó cũng là thời điểm định mệnh – lúc 9 giờ 47 phút, Bác Hồ - Chủ tịch Hồ Chí Minh đi về thế giới người hiền. Một trái tim cháy bỏng khát vọng độc lập tự do, hạnh phúc của muôn dân nước Việt trong trái tim lớn của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ngừng đập. Thủ đô Hà Nội, Quảng trường Ba Đình lịch sử, vườn hoa, ngôi nhà sàn đơn sơ Người từng ở, làm việc trong Phủ Chủ tịch hòa trong cảnh “Thế giới nghiêng mình, người tuôn nước mắt, trời tuôn mưa”.

Bảy ngày sau, lễ Quốc tang của Người tổ chức trọng thể tại Quảng trường Ba Đình trong nỗi tiếc thương vô hạn của toàn dân, toàn Đảng và bầu bạn quốc tế. Điếu văn tiễn biệt Người, Tổng Bí thư Lê Duẩn xúc động nói:

“Hồ Chủ tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa! Tổn thất này vô cùng lớn lao! Đau thương này thật là vô hạn! Dân tộc ta và Đảng ta mất một vị lãnh tụ thiên tài và một người thầy vĩ đại”.

“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”

Trong nỗi đau không có gì bù đắp được, hàng triệu người xếp hàng vào viếng Bác. Hoa, điện chia buồn của bầu bạn năm châu bốn biển tới tấp gửi đến Hà Nội. Sân bay Gia Lâm vài phút lại có máy bay hạ cánh đưa khách quốc tế đến đưa tiễn vị lãnh tụ tài ba của Việt Nam và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Ban chấp hành Trung ương họp phiên bất thường nghe Bộ Chính trị trình bày bản Di chúc bất hủ của Bác. Vì tính chất quan trọng, tầm cỡ của di chúc, lại trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, Trung ương quyết định công bố chúc thư của Bác; đồng thời giao cho một đồng chí là Ủy viên Bộ Chính trị hết sức tin cậy lo việc bảo quản, giữ gìn Di chúc suốt một thập kỷ. Năm 1989, bản Di chúc được giao về Cục Lưu trữ thuộc Văn phòng Trung ương bảo quản bởi một quy chế đặc biệt.

Ông Vũ Kỳ - thư ký của Bác kể: “Bác Hồ bắt đầu viết chúc thư từ tháng 5/ 1965, nghĩa là trước 4 năm 3 tháng ngày Bác ra đi. Sáng hôm ấy, đó là ngày 10 tháng 5, lúc 9 giờ sáng, chỉ trước kỷ niệm sinh nhật có mấy ngày, Bác nói: “Chú Kỳ giúp đưa cho tôi mấy tờ giấy trắng và cái phong bì to”. Thế rồi, Bác ung dung ngồi vào bàn làm việc để viết lời gửi lại mai sau. Ở góc trang viết, Người thận trọng đề chữ “Tài liệu tuyệt đối bí mật”.

Từ đó cho đến năm Người đi xa, năm nào Bác cũng dành thời gian để chỉnh sửa, thêm bớt chúc thư phù hợp thời cuộc và độ tuổi. Tính ra hơn bốn năm. Chỉ điều đó thôi đủ nói lên tầm vóc của di chúc, sự thận trọng hết mực của Bác.

Mọi người đều biết, rất nhiều lãnh tụ các nước, từ Tổng thống, Chủ tịch Đảng, Tổng bí thư, Thủ tướng đến các chính khách nổi tiếng thế giới khi đến thăm nơi ở, làm việc của Bác tại ngôi nhà sàn giản dị cùng ao cá đầy ắp nước hay Bảo tàng Hồ Chí Minh, đều hết sức ngạc nhiên về sự giản dị, khiêm tốn đạt đến mức tối thượng của Người. Một vị khách quốc tế ghi sổ kỷ niệm: “Cùng với loài người tiến bộ, lịch sử sẽ mãi mãi tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh như một con người hiền hậu và đáng yêu nhất”.

Chúc thư của Bác gồm 9 phần, đó là những phần cực kỳ quan trọng liên quan đến vận mệnh của Đảng, sự phồn vinh của dân tộc, trường tồn của đất nước, tình nghĩa keo sơn với bầu bạn năm châu, tình thân yêu với các cháu thiếu niên, nhi đồng.

Mở đầu chúc thư, Bác khẳng định niềm tin tất thắng về cuộc kháng chiến chống Mỹ sẽ thắng lợi hoàn toàn, nước nhà thống nhất, Bắc-Nam sum họp một nhà. Việc gì với dân, với nước bao giờ Bác Hồ cũng gieo niềm tin mãnh liệt ở ngày đơm hoa kết trái. Tết kháng chiến đầu tiên năm Đinh Hợi 1947 trên đường lên chiến khu Việt Bắc, dừng lại Chùa Trầm, Bác chúc Tết đồng bào, chiến sĩ cả nước qua Đài Tiếng nói Việt Nam nổi lên 8 chữ vàng: “Kháng chiến tất thắng, kiến quốc tất thành”. Quả đúng như vậy, tháng 5/1954 ta thắng trận Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ.

Về cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân mới, Bác viết: Sau ngày thắng lợi, Bác sẽ đi thăm khắp hai miền Nam–Bắc. Kế đó, Bác đi thăm và cảm ơn các nước anh em và bè bạn. Đây là thời kỳ mới của Tổ quốc, đất nước sang trang đổi bằng xương máu, Bác kỳ vọng:

“Còn non, còn nước, còn người

  Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”.

Để đạt hoài bão lớn lao này, Bác dặn lại toàn Đảng, toàn dân rằng, sau khi chiến tranh kết thúc, thắng lợi thuộc về nhân dân “đầu tiên là công việc đối với con người”, bởi như Người nói: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”.

Vị thế nhân dân quan trọng nên Bác dặn:“Phải đào tạo, xây dựng con người, lo ăn, lo mặc, lo nơi ở cho con người”. Tết đến, Người đi thăm các gia đình nghèo. Người gửi lụa tặng cụ già, chia kẹo cho các cháu nhỏ… Khi có người hỏi vì sao Bác kính yêu lại đến thăm nhà cháu giữa đêm giao thừa giá lạnh, Bác nói: “Không đến thăm gia đình cháu thì thăm ai”…

Bác Hồ coi trọng chân lý, đặt nhân dân lên vị trí hàng đầu với luận điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” với lý giải làm cách mạng là để giành lại độc lập, tự do cho nhân dân, đem lại cơm no, áo mặc, mọi người được học hành và hạnh phúc trong cuộc sống mới cho họ.

Bác đặt câu hỏi: “Nếu nước độc lập mà dân không được hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”. Một cử chỉ đẹp, đó là Bác Hồ đề nghị sau thắng lợi miễn thuế một năm cho nông dân, khiến bà con nông dân mát lòng, mát dạ, không chỉ vì có thêm lúa gạo, mà còn vì tư tưởng nhân văn cao đẹp của Người.

Năm 1958 của thế kỷ trước, Bác Hồ viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng” chỉ rõ những căn bệnh và biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Đó là đòi hưởng thụ, đòi danh dự, thích địa vị cao, sợ trách nhiệm, không tự phê và phê một cách thật thà… Bác Hồ cho rằng: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển, củng cố, tựa như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Chuyện kể, hồi ở Việt Bắc của thời trận mạc, các chiến sĩ bảo vệ thương Bác gầy yếu vì ăn uống kham khổ nên lên rừng bẫy chim, xuống suối bắt cá. Trên đường về thấy có măng ngon nên tiện tay hái luôn măng của bà con trong bản. Trở về nơi ở, Bác hỏi: “Các cháu lấy đâu ra nhiều măng thế?”. Thương chiến sĩ, Bác lặng lẽ rút từ trong túi ít tiền rồi nhẹ nhàng dặn các chiến sĩ quay lại chỗ bẻ măng tìm nhà dân trả tiền, nói lời xin lỗi. Bác dặn lần sau không được làm như thế nữa!

Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể rằng: Đối với con người, Bác Hồ vừa quan tâm đến cái chung vừa chăm lo chu đáo thông qua những việc làm cụ thể. Chẳng hạn Bác căn dặn người làm tướng “Bộ đội chưa có nước thì tướng chưa được uống, bộ đội chưa có cơm thì tướng chưa được ăn, bộ đội chưa có lửa thì tướng không được phàn nàn rét”… Sách “Đường kách mệnh” Bác viết năm 1927, nhấn mạnh tư cách cốt lõi một người cách mạng cần phải “vị công vong tư”, nghĩa là phải luôn vì cái chung, vì việc công mà quên cái riêng và “ít lòng ham muốn vật chất”.

Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám mới thành công, nhà nước Dân chủ Cộng hòa còn non trẻ. Với nhãn quan chính trị đặc biệt, tầm nhìn xa, rộng nên trong thư gửi Ủy ban Nhân dân tỉnh thành, huyện, xã, bộ, ngành, Bác Hồ kêu gọi toàn Đảng, toàn dân đề cao đức tính “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” rằng, phải ngăn chặn ngay những ảnh hưởng tiêu cực, sự tha hóa của quyền lực đối với một số cán bộ khi đã nắm quyền trong tay, tưởng mình là “thần thánh” rồi coi khinh nhân dân, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mạng lên”, chỉ muốn ăn cho ngon, mặc cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng lãng mạn. Thử hỏi tiền bạc ở đâu ra? Thậm chí lấy của công làm của tư, quên cả thanh liêm đạo đức”.

Tư tưởng, đạo đức, tấm gương, phong cách của Hồ Chí Minh là như thế đó. Giản dị, cao sang, giá trị trường tồn.

Phần nói về phong trào Cộng sản quốc tế là nỗi băn khoăn, trăn trở đến da diết của Bác khi cận kề tuổi tám mươi. Hơn thế, Bác trải không ít gian nan vất vả trong ba thập kỷ bôn ba khắp 28 quốc gia trong những năm 20 – 30 của thế kỷ XX, tìm đường cứu nước cứu dân. Mùa xuân năm 1941 trở về Tổ quốc lo việc lớn, đất nước giành độc lập vào ngày 2/9/1945 vừa mới đầy năm, Người đã dấn thân trong cuộc trường chinh 9 năm kháng chiến trường kỳ, nếm mật nằm gai thì sức đâu chịu nổi!

Tháng Tám mùa Thu cách mạng năm Kỷ Hợi 2019 này, Bác đi xa tròn nửa thế kỷ, nhưng đạo đức sáng trong, cống hiến vĩ đại, tấm gương ngời sáng, phong cách giản dị của Người cùng bản Di chúc bất hủ được chính Người để tâm chuẩn bị mấy năm trời nay vẫn còn đó. Tất cả như mới ngày hôm qua, hôm kia. Rất thời sự mà cũng rất vĩnh hằng, bởi Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là niềm tin tất thắng, khi Người gọi là mùa Xuân đến.

Từ Tuyên ngôn Độc lập đến Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Từ niềm tin cuộc chiến tranh chống chiến tranh phá hoại với “Không có gì quý hơn độc lập tự do” đến Di chúc lịch sử… đều mang hồn thiêng sông núi của nước Nam này. Theo con đường của Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn, sau hơn 30 năm đất nước tiến hành sự nghiệp đổi mới, Quốc gia khởi nghiệp, 7 năm thực hiện cuộc vận động học tập, làm theo tấm gương đạo đức, phong cách của Bác Hồ, đất nước thu nhiều thành tựu về mọi phương diện cũng như hội nhập cộng đồng quốc tế. Tất cả là bản đại hợp xướng Việt Nam vinh quang, Hồ Chí Minh sống mãi.

Xa hơn, một thế kỷ trước, Bác Hồ đã đến mảnh đất Boston, trung tâm khởi đầu cuộc cách mạng giành độc lập của nước Mỹ với danh xưng Nguyễn Tất Thành. Đó không phải là cuộc du ký, đó là Bác tìm đến quê hương cách mạng, nơi đã vang lên câu nói bất hủ: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng”.

Triết lý về con người với 11 từ vừa dẫn đã ăn vào máu thịt của người con trai làng Sen xứ Nghệ, để sau này mới có những di sản văn hóa, đạo đức, nhân văn… vĩnh hằng:

- “Bản án chủ nghĩa thực dân và các dân tộc bị áp bức” sản sinh trong những đêm dài giá buốt ở Paris chỉ với cục gạch làm than hồng sưởi ấm.

- Tuyên ngôn Độc lập bất hủ ngày 2/9/1945, bản tráng ca bất tử viết ở phố cổ Hà Nội chỉ sau trận ốm hành hạ ông Ké nhiều ngày, cận kề Hội nghị Diên Hồng nơi “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể: Sau Tổng khởi nghĩa 19/8 thành công, Đại tướng đón Bác Hồ từ chiến khu Tân Trào về ở tại ngôi nhà 48 Hàng Ngang, Thủ đô Hà Nội.

Ngày 28/8/1945 Bác Hồ đặt bút viết dự thảo Tuyên ngôn Độc lập. Sau này Bác kể lại, đó là những giây phút sung sướng nhất của đời mình. Sáng 30/8 Trung ương Đảng họp thông qua dự thảo Tuyên ngôn và Chương trình đại lễ Tết Độc lập 2/9/1945.

Nghe chăng, Hà Nội thủ đô, vườn hoa Ba Đình đầy nắng của 74 năm về trước còn văng vẳng đâu đây, dội vào Lăng lời mộc mạc của Người hỏi trước khi công bố Tuyên ngôn Độc lập trước quốc dân đồng bào và thế giới, đó là giờ phút thiêng liêng, thăng hoa của nước Việt đến chỉ sau nạn đói thế kỷ Ất Dậu 1945 có vài tháng: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Lời thoại này đã đi vào âm nhạc, bài “Ba Đình nắng” của nhạc sĩ Bùi Công Kỳ:

“Gió vút lên ngọn cờ trên kỳ đài phất phới. Gió vút lên tôi về đây lắng nghe vang tiếng gọi của mùa Thu cách mạng vàng sao. Giọng nói “Tôi nói đồng bào nghe rõ không? Ôi than thiết lời Cha già dân tộc, bộ ka ki đã bạc với gió sương”.

Từ Châu Mỹ La tinh, một nhà thơ tôn vinh Hồ Chí Minh là bài ca tự do, bài ca hòa bình. Nhà văn Pháp nổi tiếng Jean Lacouture viết tiểu sử Hồ Chí Minh:

“Bác Hồ bây giờ là một người cao tuổi. Đời Bác đã trải qua nửa thế kỷ đấu tranh cách mạng… nhưng nếu cậu bé Cung trở thành Nguyễn Tất Thành, trở thành anh Ba, trở thành Nguyễn Ái Quốc, trở thành Vương, trở thành Lin, rồi trở thành Hồ Chí Minh không được tự mắt nhìn thấy nước Việt Nam độc lập và thống nhất từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau, thì những người Việt Nam khác đã chứng kiến điều ấy trở thành sự thật; bởi đó là khát vọng của Người mà lúc sinh thời Bác Hồ từng nói: “Đối với nhân dân Việt Nam, không có gì quý hơn độc lập và phẩm giá con người”.

Lời kết cuốn tiểu sử Hồ Chí Minh viết:

“Chúng ta khâm phục Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là một phong cách hấp dẫn, có thể nói là quyến rũ nữa; một nhà yêu nước không bao giờ nghĩ tới lợi ích riêng tư. Cả thế giới đều biết từ nửa thế kỷ nay dưới 20 bí danh khác nhau: Người sáng lập nước Việt Nam vẫn giương cao ngọn cờ của những người dân thuộc địa. Từ khu phố Mouffetard đến Quảng trường Đỏ, từ Điện Biên Phủ đến chiến tranh chống Mỹ leo thang. Đây là con người đã tiến hành cuộc chiến tranh lâu dài nhất, chống lại cái trật tự mà các cường quốc áp đặt. Đó là con người bất tử - Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Kính thưa Bác – Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân nhân văn hóa thế giới. Mùa Thu cách mạng – mùng 2 tháng Chín năm 2019 này tròn 50 năm – nửa thế kỷ Bác kính yêu đi gặp cụ Mác, cụ Lê-Nin và các vị đàn anh khác. Đó là những năm tháng Tổ quốc, đất nước và đồng bào của Người chẳng hề vơi niềm thương tiếc, nỗi nhớ da diết vô bờ bến đối với Bác.

Nhân ngày Đại giỗ, xin thắp nén tâm nhang dâng kính lên Người – Bác Hồ dào dạt “Muôn vàn tình thân yêu”.

 

                                                                                                      N.X.L.

logo logo