Danh mục

NGUYỄN TRỌNG XUẤT - Ngày: 06/07/2021

BÀI HỌC CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM Ở NAM BỘ:

SỰ NỐI TIẾP GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM

                                                                                           Nguyễn Trọng

      Trong lịch sử nhiều ngàn năm của dân tộc, mỗi chặng đường, nhất là những chặng đường khởi nghĩa, kháng chiến chống lại xâm lược ngoại bang, đều ghi đậm bài học nối tiếp truyền thống dân tộc. Truyền thống đó được cố Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Trần Văn Giàu tổng kết trong tác phẩm “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam”.

     Trước hết xin được điểm qua bối cảnh tình hình những năm 40 của thế kỷ XX và những diễn biến chính của Cách mạng Tháng Tám ở Nam Bộ, sau đó là cuộc kháng chiến ở Nam Bộ để bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được.

     1/ Chiến tranh thế giới II và bối cảnh những năm 40 thế kỷ XX, trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

 

 

 

      

 

 

 

 

        Phát xít Đức tấn công Ba Lan, mở màn cho Chiến tranh thế giới lần 2,

                                                                                                     ngày 1/9/1939.

      Chiến tranh Thế giới II do phát xít Đức mở màn năm 1939. Đảng bộ Nam Kỳ phát động khởi nghĩa năm 1940, nhưng do thời cơ chưa chín muồi nên không thành công. Sau Khởi nghĩa Nam Kỳ, lực lượng cách mạng bị thực dân Pháp khủng bố rất dã man, bị thiệt hại nặng nề. Nhưng thiệt hại quan trọng hơn là tình hình tư tưởng trong quần chúng cách mạng: Số người thoát khỏi sự truy lùng của địch thì hoặc là ẩn mình, an phận, hoặc chuyển vùng khác, mất liên lạc với quần chúng. Tâm trạng nghi kỵ lẫn nhau trong nội bộ sợ nội gián do địch cài vào là một trong những nguyên nhân làm tổ chức cách mạng bị tê liệt.

      Năm 1941, nhà chiến sĩ cách mạng Trần Văn Giàu, sau khi vượt ngục Tà Lài, về cơ sở cũ ở Phú Lạc (Tân An, trước thuộc tỉnh Chợ Lớn) gặp lại một số đảng viên kỳ cựu của Đảng bộ Nam Kỳ. Ông thuật lại trong Hồi ký của mình: “Bảy Trân (Nguyễn Văn Trân) - nguyên cán bộ của Xứ ủy ở địa phương nói: “Bọn tao ở đây không còn lạc quan chút nào. Bi quan xâm chiếm tâm hồn tụi tao”. Không bi quan sao được khi Liên Xô, thành trì của Cách mạng thế giới, liên tục rút lui trước sức tiến công của Đức phát xít (1941), Mát-xcơ-va, Lê-nin-grát, Sta-lin-grát… bị đe dọa. Còn trong nước thì cơ sở cách mạng liên tục bị vỡ… (Trần Văn Giàu - Tổng tập , Nxb QĐND, Hà Nội, 2008, Tập III).

      Trước tình hình khó khăn đó, Trần Văn Giàu cùng nhiều đồng chí cốt cán ra sức truyên truyền, củng cố lòng tin vào sự tất thắng của cách mạng, vận động thành lập lại Xứ ủy Lâm thời, tiếp tục sự nghiệp cách mạng..

      Bài học ở đây chính là: trong bối cảnh khó khăn của tình hình, người cộng sản giữ vững được lòng tin vào lý tưởng, vào sự tất thắng của chân lý, tin và dựa vào dân, làm điểm tựa cho tổ chức cách mạng.

     2/ Khôi phục lực lượng cách mạnh ở Nam Bộ. Không khí tiền khởi nghĩa sau đảo chính của Nhật ngày 9/3/1945.

 

 

 

 

 

 

    

 

 

            Nhật hất cẳng Pháp ngày 9/3/1945. Sĩ quan Pháp bị Nhật bắt

 

      Năm 1943, một số Ban cán sự Tỉnh ủy ở Nam Bộ đã dần dần được gầy dựng lại; và trong cuộc Hội nghị họp ở Chợ Gạo (Tiền Giang), Xứ ủy Lâm thời được thành lập. Sau chiến thắng vang dội của Hồng quân Liên Xô ở Sta-lin-grát (cuối 1942 đầu 1943), điều kiện khách quan của thời cơ khởi nghĩa đã gần kề, nhưng điều kiện chủ quan là lực lượng cách mạng, và nhất là đường lối chính trị chung của cả nước như thế nào… (vì Xứ ủy chưa bắt được liên lạc với Trung ương) được đặt ra cấp bách cho lãnh đạo cách mạng Nam Bộ.

      Trên chiến trường Châu Á - Thái Bình Dương, mặc dù quân Đồng Minh (Mỹ - Anh) đang thắng thế, nhưng quân Nhật còn rất mạnh. Năm 1940, Nhật đưa quân vào Đông Dương, khống chế bộ máy cai trị của Pháp tại đây nhằm phục vụ hoạt động của quân đội Nhật ở Đông Nam Á, nhưng Nhật vẫn giữ thể chế thuộc địa của Pháp. Chỉ đến khi quân Đồng Minh chiếm Philippin năm 1945, đe dọa đổ bộ vào Đông Dương thì Nhật mới phải đảo chánh Pháp, lập chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim… để tránh nguy cơ bị đánh sau lưng.

        Cuộc đảo chánh của Nhật ngày 9/3/1945 tạo ra một tình thế đặc biệt, khả năng khởi nghĩa giành chính quyền cho cách mạng đã là thời cơ trước mắt. Mặc dù chưa liên lạc được Trung ương và thực lực cách mạng còn yếu, nhưng trong tình thế cấp bách, Xứ ủy Nam Bộ (Tiến Phong) đã sáng tạo, vừa vận dụng tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (năm 1939) xác định sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng, đặt nhiệm vụ Giải phóng dân tộc lên hàng đầu, vừa xây dựng cấp tốc một “Đaọ quân chính trị”, dựa vào thế công khai, đưa cán bộ đảng vào nắm tổ chức Thanh niên Tiền Phong, sắp xếp đội ngũ, luyện tập võ nghệ, lấy Thanh niên Tiền Phong - Ban xí nghiệp (lực lượng công nhân) làm nòng cốt. Thanh niên Tiền Phong trở thành lực lượng xung kích cướp chính quyền khi thời cơ đến.

      Từ tháng 5 đến tháng 7/1945, ở Nam Bộ diễn ra tình thế sôi sục tiền khởi nghỉa. Thanh niên ca hát những bài hát lịch sử của nhóm Hoàng Mai Lưu (chữ đầu họ tên của ba sinh viên, nhạc sĩ yêu nước: Huỳnh Văn Tiẻng - Mai Văn Bộ - Lưu Hữu Phước), khơi động lòng yêu nước, tự hào dân tộc, như các bài Bạch Đằng Giang, Ải Chi Lăng, Trưng Nữ Vương, Người xưa đâu tá?, Thanh niên hành khúc, Khúc Khải Hoàn, Lên đàng…

     Bài học ở đây là: Trong khó khăn cách mạng, trên cơ sở lòng tin vào lý tưởng cách mạng, người chiến sĩ cộng sản phải chỉ ra đường lối đúng, dựa vào quần chúng cách mạng để huy động sức mạnh đoàn kết toàn dân, (mà sau này chúng ta gọi là “thế trận lòng dân”), từ đó luôn biết sáng tạo, dám nghĩ dám làm; dùng trí tuệ, bản lĩnh kết hợp với lòng dũng cảm, dám hy sinh thì mới giành thắng lợi. Người cách mạng nếu chỉ có lòng dũng cảm thì không thể thắng được kẻ địch mạnh hơn ta gấp bội.

    3/ Tổng khởi nghĩa thắng lợi: Hà Nội 19/8 – Huế 23/8 – Sài Gòn 25/8/ 1945.

      Phát xít Đức đầu hàng Đồng Minh ngày 2/5/1945. Nhật Hoàng đầu hàng ngày 14/8/1945. Lệnh khởi nghĩa từ Đại hội Quốc dân Tân Trào ngày 16/8/1945 được truyền đi toàn quốc. Ở Nam Bộ, Xứ ủy đã họp phiên đặc biệt ngày 15/8, xác định nhiệm vụ cấp bách là khởi nghĩa giành chính quyền. Tuy nhiên do ảnh hưởng của thất bại Khởi nghĩa Nam kỳ 1940 còn khá nặng nề nên trong hội nghị vẫn có xu hướng chần chừ. Phải đến 3 lần Hội nghị ở Chợ Đệm (nay thuộc huyện Bình Chánh, TP.HCM) thì mới thống nhất quyết tâm tiến hành khởi nghĩa.

 

 

 

 

 

 

 

 

                 Thanh niên Tiền Phong chuẩn bị diễu hành, 25/8/1945.

      Đêm 24 rạng 25/8/1945 các lực lượng xung kích của công nhân, Thanh niên Tiền Phong đã chiếm lĩnh tất cả các nơi xung yếu của Sài Gòn, bắt sống viên Khâm sai Nguyễn Văn Sâm của chính phủ Trần Trọng Kim ngay tại Dinh Thống đốc Nam Kỳ (nay là Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh). Các tỉnh Nam Bộ cũng giành chính quyền gần như đống thời với Sài Gòn. Cách mạng đã tiến hành từ bên trong của chế độ cũ và đã giành được thắng lợi, trong khi Nhật còn đến hơn 70 ngàn quân tại đây nhưng họ án binh bất động. Lưc lượng cách mạng đã vận động được hầu hết lực lượng Cộng hòa vệ binh của chính quyền Trần Trọng Kim ngả về phía quân khởi nghĩa.

 

 

 

 

 

 

     

        

          Nhân dân ngoại thành và vùng phụ cận kéo vào thành phố Sài Gòn

                                       cướp chính quyền ngày 25/8/1945.   

     Hôm sau, ngày 25/8/1945, cuộc biểu dương lực lượng của hơn một triệu nhân dân Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ đã thể hiện khí thế áp đảo tuyệt đối của cách mạng. Cách mạng Tháng Tám 1945 đã thành công.

     Ngày 2/9/1945, cuộc diễu hành vĩ đại của nhân dân mừng độc lập, đã khẳng định lời thề: “Dộc lập hay là chết” của nhân dân Nam Bộ quyết cùng cả nước “Đem hết tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ nền độc lập” vừa giành được. Nhưng nhân dân Nam Bộ chỉ được hưởng độc lập có 28 ngày.

     Đêm 22/9, quân Pháp được sự trợ giúp của quân Anh, đã tiến công và chiếm giữ những cơ sở quan trọng của chính quyền cách mạng.

     Cuộc kháng chiến bắt đầu từ Nam Bộ. Rồi toàn quốc cũng bước vào kháng chiến từ 19/12/1946, do giặc Pháp muốn cướp nước ta một lần nữa. Cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài 9 năm. Rồi tiếp sau đó, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài 21 năm, cho đến ngày nhân dân ta giành toàn thắng 30/4/1975. Cuộc trường kỳ kháng chiến gian khổ diễn ra suốt 30 năm với biết bao thế hệ người Việt Nam nối tiếp nhau chiến đấu để giữ trọn lời thề độc lập năm 1945.

     Điều đáng ghi nhận ở đây là: Sự chuyển biến có ý nghĩa quyết định trong con người Việt Nam ở Nam Bộ khi Cách mạng Tháng Tám thành công, đó là chuyển biến về chất trong tâm tưởng: Từ người dân nô lệ trở thành người chủ đất nước bằng chính sức mạnh cách mạng của mình. Từ đó tinh thần yêu nước được nâng lên thành ý chí cảm tử, “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, đó là bước phát triển vượt bậc của chủ nghĩa yêu nước qua Cách mạng Tháng Tám, làm động lực cho cuộc kháng chiến 9 năm (và cả 21 năm) sau đó.

    4/ Những giá trị tinh thần truyền thống dân tộc đã được nối tiếp như thế nào?

     Bài học về Cách mạng Tháng Tám ở Nam Bộ đã được nhiều sách, báo tổng kết. Trong pham vi bài này chỉ xin ghi lại nội dung của việc nối tiếp giá trị tinh thần truyền thống dân tộc toát ra từ cuộc khởi nghĩa đặc sắc và hào hùng ấy.

    1.- Trước hết, chúng ta đều biết sau Khởi nghĩa Nam Kỳ 1940, cách mạng bị dìm trong biển máu. Dụng ý của địch là dập nát mầm mống nổi dậy bằng sự khiếp sợ, bi quan, tuyệt vọng. Nhưng chúng đã không thành công. Những nguời cộng sản trung kiên đã biết khơi dậy trong cán bộ, trong nhân dân tinh thần quật khởi, nhất định không chịu làm nô lệ.

     Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đó là đặc điểm nổi bật đầu tiên trong bậc thang giá trị tinh thần truyền thống dân tộc. Chúng ta nói Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với nội hàm không chỉ khung trong phạm vi tình cảm: yêu đất nước, yêu dân tộc, mà rộng hơn chính là nói đến một hệ thống tư tưởng yêu nước, từ tinh thần xả thân vì nghĩa lớn, cứu nước, không màng danh lợi, không tính toán thiệt hơn; tình cảm đó đi liền với ý chí kiên cường bất khuất, lòng tin sâu sắc vào sức mạnh tiềm tàng dân tộc, tin vào chính nghĩa nhất định cuối cùng sẽ thắng lợi, mặc dù phải trải qua muôn vàn thử thách cực kỳ khốc liệt.

     Thực tiễn cách mạng ở Nam Bộ nói riêng, trong cả nước nói chung cho thấy điều đó. Ở Nam Bộ,  chỉ 3 năm sau thất bại của Khởi nghĩa Nam Kỳ, tiềm lực cách mạng đã được khôi phục, và 2 năm sau, cách mạng Nam Bộ giành được chính quyền. Rộng ra, trong 30 năm kháng chiến có lúc cách mạng lâm vào tình thế hầu như không gượng dậy nổi dưới sự đàn áp khốc liệt của kẻ thù, nhưng theo cách nhận xét của một nhà sử học Mỹ: Dân tộc Việt Nam như con chim Phượng Hoàng (Phoenix) trong thần thoại Hy Lạp, dù bị kiệt quệ nhất thời nhưng vẫn luôn có sức mạnh tiềm ẩn, phục hồi và vưon lên mạnh mẽ hơn trứoc.

     Nhìn lại lịch sử dân tộc, trong hơn ngàn năm Bắc thuộc, dân tộc Việt đã liên tục khởi nghĩa. Sau đó trong suốt thời đại độc lập, tự chủ, Việt Nam đã phải 3 lần chống quân Nguyên - Mông (thế kỷ 13), 20 năm chống quân Minh (thế kỷ 15), đánh bại 20 vạn quân Thanh (thế kỷ 18), và trong 2 thế kỷ 19 và 20 đã bền bỉ đấu tranh suốt 117 năm để giành lại Độc lập, Thống nhất từ tay thực dân Pháp, phát xít Nhật, rồi đế quốc Mỹ (từ 1859 đến 1975).

    Tinh thần yêu nước thì dân tộc nào cũng có, không chỉ ở Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam  không phải là một giá trị bẩm sinh, tự nhiên mà có, nó được tích tụ trong nhiều ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, chất lượng ngày càng sâu sắc, đậm đà. Và đến Cách mạng Tháng Tám thì trong con người Việt ở phương Nam, chủ nghĩa yêu nước lại thấm đượm một chất lượng mới làm cả thế giới kinh ngạc.

     2.- Hai là, trong đấu tranh với thế lực thù địch, ngoài yếu tố dũng cảm, không ngại hy sinh, thì nhân tố nổi bật là “lòng tin” sắt đá vào lý tưởng, phát huy được Bản lĩnh, Trí tuệ, tức sự nhạy bén, sáng tạo trong ứng xử trước vận mệnh đất nước và nhất là kịp nắm bắt thời cơ khi tình thế đã chín muồi.

     Bản lĩnh và trí tuệ là nét nổi bật thứ hai của các giá trị tinh thần truyền thống dân tộc Việt Nam được thể hiện đặc sắc trong Cách mạng Tháng Tám ở Nam Bộ. Nếu chỉ có lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm thì không thể thắng kẻ địch mạnh hơn ta gấp bội. Trong lịch sử các dân tộc, không phải lúc nào chính nghĩa cũng giành được phần thắng. Phải có bản lĩnh, trí tuệ, phải nắm vững qui luật phát triển tất yếu của xã hội, của lịch sử; có như vậy thì trong tình thế thoái trào, nhân tâm xao xuyến, lực lượng cách mạng không còn bao nhiêu, nhưng người yêu nước vẫn bình tĩnh tìm ra giải pháp đúng cho những mâu thuẫn xã hội, đưa cách mạng tiến lên.

     Cách mạng Tháng Tám ở Nam Bộ đã trải qua thử thách gay gắt; khi diễn ra tình hình khách quan địch đang suy sụp, không còn có thể cai trị như trước được nữa, nhưng điều kiện chủ quan chưa đủ, đội tiền phong chưa sẵn sàng, nhất là cần một “Đạo quân chính trị” đông đảo để tiến hành khởi nghĩa thì chưa có điều kiện hình thành. Trong tình thế cấp bách đó, cách mạng đã biết “tương kế tựu kế”; lợi dụng ý đồ Nhật muốn xây dựng một lực lượng thanh niên làm chỗ dựa chính trị, Xứ ủy đã quyết định đưa lực lượng cốt cán của mình ra nắm tổ chức công khai, chuyển thành lực lượng do cách mạng chỉ huy, thực hiện nhiệm vụ “Đội quân chính trị” trong khởi nghĩa. Sáng kiến đó đã giúp cách mạng chỉ trong thời gian vài tháng đã qui tụ hơn một triệu thanh niên Nam Bộ, trong đó có 120.000 Thanh niên Tiền Phong - Ban xí nghiệp tức lực lượng công nhân, với hơn 40.000 thanh niên xung kích. Chủ trương xây dựng Lực lượng Thanh niên Tiền Phong thực sự là một sáng tạo độc đáo trong  Cách mạng Tháng Tám của Xứ ủy Nam Bộ. Bản lĩnh, trí tuệ trong ứng xử tình thế chính là yếu tố quan trọng trong bậc thang giá trị tinh thần truyền thống dân tộc mà cách mạng đã thừa hưởng và phát huy.

     3.- Ba là, Chủ nghĩa anh hùng Việt Nam. Chủ nghĩa anh hùng xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước, đã sản sinh những gương xuất sắc trong đấu tranh chống địch. Cách mạng Tháng Tám là môi trường tốt nhất cho sự xuất hiện những tấm gương lập nên công trạng lớn trong lịch sử dân tộc, trong chiến đấu.

     Qua các vở kịch, bài hát lịch sử, những tấm gương như Ngô Quyền trong chiến thắng Bạch Đằng Giang, Trần Quốc Tuấn trong kháng chiến chống Nguyên - Mông. Nguyễn Huệ trong trận Đống Đa (1789) đã làm nức lòng bao thế hệ người Việt. Những sự kiện và con người anh hùng được mô tả trong các áng thơ, nhạc, văn học.nghệ thuật, đã kích thích chủ nghĩa anh hùng trong mỗi con người Việt Nam. Và chính chủ nghĩa anh hùng Việt Nam được khơi động trong thanh niên đã là động lực của bao sự tích thần kỳ trong chiến đấu, như Em bé tẩm dầu đốt kho xăng địch, chị Võ Thị Sáu anh hùng trong kháng chiến, những đội quân quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh và nhiều gương anh hùng liệt sĩ có tên và không tên khác…

     Chủ nghĩa anh hùng Việt Nam đến Cách mạng Tháng Tám, đã được nâng lên thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tức người anh hùng đã giác ngộ cao về Tổ quốc và Dân tộc, không lấy sự nổi bật, xuát sắc cá nhân làm mục đích hành động, mà lấy lợi ích tập thể làm trọng, sẵn sàng xả thân, hy sinh mà không tính toán lợi ích cá nhân.

     Như vậy, cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám và cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập vừa giành được là môi trường nẩy nở chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nối tiếp và phát triển giá trị tinh thần truyền thống anh hùng dân tộc; cho nên chúng ta có không chỉ những nhân vật anh hùng mà còn có rất nhiều tập thể anh hùng.

    4.- Bốn là, Truyền thống đoàn kết, “trên dưới một lòng”. Đời nhà Trần, khi được vua Trần Anh Tông hỏi về kế sách

 giữ nước, Trần Hưng Đạo đã nói: “Vua tôi hòa mục, trên dưới một lòng, là sức mạnh chống địch. Khoan sức dân là kế sâu rễ bền gốc.

     Trong Cách mạng Tháng Tám ở Nam Bộ, tuy lúc đầu cũng chưa có ngay được sự đồng thuận cao trong lưc lượng cách mạng, như chuyện hai Xứ ủy Nam Bộ: Xứ ủy Tiền Phong và Xứ ủy Giải Phóng. Nhưng cả hai đều lấy việc chống xâm lược Pháp làm mục đích chung, cho nên cuối cùng đã thống nhất được lực lượng, tiến hành kháng chiến thắng lợi.

      Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi tổng kết thắng lợi của kháng chiến chống Pháp, đã nêu bật nguyên nhân: cán bộ, quân đội và nhân dân một lòng với chính phủ nên chúng ta giành được thắng lợi lớn. Tư tưởng Trần Hưng Đạo cách đây hơn 700 năm với tư tưởng Hồ Chí Minh là nhất trí, vì bởi khi vận nước lâm nguy, đã là người Việt Nam ai cũng thấy phải gác những bất đồng để cùng nhau chung sức chống địch. Khối Đoàn kết toàn dân được xây dựng trên tinh thần “trên dưới một lòng” là truyền thống rất quý, chỉ có thể đạt được khi biết đặt lợi ích chung của đất nước lên trên lợi ích riêng. Gíá trị tinh thần truyền thống này hiện đang rất “thời sự”, giúp chúng ta phản bác lại luận điệu của kẻ xấu, của địch hiện đang ra sức tìm cách xuyên tạc sự thật, gieo rắc hoài nghi, chia rẽ khối đoàn kết, hòng làm giảm sức đề kháng của dân tộc trước ý đồ xâm lược của chúng.

     Bài học của Cách mạng Tháng Tám ở Nam Bộ là một phần của bài học cách mạng cả nước, đó là những bài học rất phong phú, và đã trở thành tài sản tinh thần chung của cả nước. Ở đây chúng ta chỉ đi sâu khía cạnh của một số mặt về giá trị tinh thần truyền thống mà chúng ta thừa hưởng và phát huy trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Các giá trị tinh thần truyền thống đó không chỉ được nối tiếp, mà được nâng cao, trở thành nét văn hóa độc đáo Việt Nam, và đạt trình độ tuyệt vời trong đấu tranh cách mạng mà cho đến hôm nay khi nhìn lại quá trình hơn 70 năm trước, mỗi chúng ta đều có quyền tự hào. Và hiện nay những giá trị truyền thống đó đang là động lực và mục tiêu cho chúng ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, biển, đảo của chúng ta./.

 

                                                                                              N.T.

logo logo