Danh mục

NGUYỄN TRỌNG XUẤT - Ngày: 06/07/2021

ĐẾN VỚI CÁCH MẠNG BẰNG HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ

                                                                            Phan Thu Hương

      Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát sinh ngày 15-2-1913 tại xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Bến Tre). Khi đến tuổi học trung học, ông lên Sài Gòn học trường Pétrus Ký. Năm 1933, ông thi vào học khóa 8 Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và tốt nghiệp thủ khoa năm 1938. Cuối năm 1938 khi vừa có tấm bằng kiến trúc sư, ông trở về Sài Gòn và làm việc tại văn phòng kiến trúc sư Chauchon, người Pháp, tại số 68-70 đường Mayer (nay là Võ Thị Sáu).

Năm 1940, ông là người Việt Nam đầu tiên mở văn phòng kiến trúc tư ở Sài Gòn, có nhiều thân chủ và có uy tín, nhưng ông không quan tâm làm giàu mà chuyển sang hoạt động cách mạng. Năm 1941, ông đoạt giải nhất cuộc thi thiết kế khu Trung tâm hội chợ triển lãm Đông Dương do Toàn quyền Đông Dương Decoux tổ chức.

Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát hoạt động liên tục, sôi nổi từ tiền khởi nghĩa, đến kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, với nhiều trọng trách khác nhau khi ở thành phố, khi ở chiến khu, ông vào Đảng năm 1945. Từ chủ nhiệm báo Thanh Niên, trưởng ban phong trào Truyền bá Quốc ngữ, phong trào Thanh niên tiền phong, Giám đốc Sở Thông tin Nam Bộ, phụ trách Đài phát thanh Tiếng nói Sài Gòn - Chợ Lớn Tự do… đến Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam; Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Sau ngày miền Nam giải phóng, nước nhà thống nhất, ông lần lượt giữ các chức vụ quan trọng: Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước… Ông là đại biểu Quốc hội các khóa I, II, III. VI, VII, VIII. Ông được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều Huân, Huy  chương cao quí khác.

Ông mất ngày 30/9/1989 sau một cơn bệnh nặng, thọ 76 tuổi.

Từ ngày ông qua đời đến nay, xã hội biết ông là một trí thức cách mạng nổi tiếng, một kiến trúc sư tài hoa đã thiết kế, xây dựng nhiều công trình, nổi bật là nhà hát Hòa Bình trên đường 3 tháng 2, thành phố Hồ Chí Minh, được xây sau ngày miền Nam giải phóng. Nhưng còn sự nghiệp làm báo theo một kiểu riêng của ông thì ít ai biết.

Thời đi học, qua tiếp xúc với báo cách mạng và cuộc đấu tranh trên báo công khai, Huỳnh Tấn Phát càng chú ý đến cách mạng. Khi học ở Hà Nội, ông đã bắt đầu viết báo ủng hộ báo “La Lutte” (Tranh Đấu) trong Nam, báo “Le Travail” (Lao Động) ở Bắc Kỳ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

      Tuần báo Thanh Niên số 2, xuất bản tại Sài Gòn, tháng 9/1941.                                                                       

Năm 1943, có tiền, ông đã mua lại manchette tờ báo công khai Thanh Niên (ra đời từ tháng 9/1941, đã qua hai đời chủ nhiệm), để ra báo hàng tuần với mục đích tập hợp lực lượng yêu nước, phát động thanh niên lên đường chiến đấu theo lý tưởng cách mạng đã được nung đúc trong ông từ thời niên thiếu. Lúc đầu có sự cộng tác của nhóm Tô Văn Của (khi tập kết, ra Bắc, ông Tô Văn Của làm chủ nhiệm báo Người Giáo viên nhân dân), Huỳnh Văn Nghệ - tác giả bài thơ Nhớ Bắc, nhà báo Bằng Giang…, sau có thêm nhà báo Huỳnh Văn Tiểng, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, nhà báo Nguyễn Văn Nguyễn. 

Ngày 26/9/1944, tòa soạn phát hành báo Thanh Niên (đặt tại nhà ông Võ Văn Khoa - đốc công ga Sài Gòn, quận 1), bị mật thám bao vây, một số anh em bị bắt giam ở bót Catinat. Chủ nhiệm Huỳnh Tấn Phát vẫn không nao núng, vẫn tiếp tục ra báo và hỗ trợ phong trào sinh viên.

Thanh Niên là một tờ báo có giá trị đặc biệt, mà bài vở của nó ở các mục hợp lại như một bản hòa tấu rất có chính trị. Nó vạch ra một đường đi đúng theo dòng tiến hóa của lịch sử. Nó có ý thức đứng lên làm lịch sử và thiết tha mời gọi đồng bào các giới đoàn kết cùng đứng lên, can đảm chấp nhận hy sinh để nối con đường lịch sử duy nhất đã bị gián đoạn. Với Thanh Niên, viết và sống chỉ là một. Đọc Thanh Niên, người ta có cảm giác như hơ tay trên lửa đỏ, người ta khó có thể nguội lạnh dửng dưng được. Chính ở điểm đó, Thanh Niên kín đáo lên tiếng gọi đàn. Đó là nhờ tài năng tổ chức lãnh đạo của chủ nhiệm Huỳnh Tấn Phát: “Làm báo công khai ở Sài Gòn thời thuộc địa, có một lần, trong vẻn vẹn có một năm vẫn đủ để đời, tưởng chỉ có Huỳnh Tấn Phát. Đến các tay làm báo chuyên nghiệp cũng chỉ thấy trong mơ”.

Thời đó, Sài Gòn có khối báo ngày, báo tuần. Vậy mà năm 1985, kỷ niệm 10 năm giải phóng miền Nam, Đài truyền hình TP.HCM chiếu một phim tài liệu trong đó có hình ảnh trang bìa tờ Thanh Niên của Huỳnh Tấn Phát. Ở nước ngoài, tờ Thanh Niên của Huỳnh Tấn Phát được trang trọng đặt trong thư viện trường Đại học Sorbonne ở Pháp.

 Sau Cách mạng tháng Tám, ông hoạt động chống Pháp tại Sài Gòn và trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa I ngày 6/1/1946. Đang làm việc tại nhà in bí mật số 160 La Grandière (nay là đường Lê Thánh Tôn)), in báo và truyền đơn thì ngày 1/6/1946, ông bị bắt cùng mẹ ông và bà Bùi Thị Nga - vợ ông mới đến. Ông bị giam hai năm ở Khám Lớn. Sau đó ông Mai Văn Bộ (sau này là Đại sứ tại Pháp), cũng bị bắt. Gặp nhau trong tù, hai ông bàn khi ra tù phải chú trọng Phong trào báo chí thống nhất (được phát động từ năm 1945).

Ngày 19/6/1946, Mai Văn Bộ được thả. Còn ông đến tháng 11/1947 mới được thả. Ra tù, ông Mai Văn Bộ tham gia Phong trào báo chí thống nhất, phụ trách biên tập nhiều tờ báo ngày, báo tuần và luôn luôn nhận được ý kiến của ông Phát về việc viết bài cho mục xã luận Quan điểm của chúng tôi. Đến năm 1949, phong trào bị cấm và những nhà báo có tên tuổi như Nam Quốc Cang, Dương Tử Giang, Nguyễn Văn Hiếu, v.v… bị theo dõi, bị khủng bố, bắt bớ trong đó Nam Quốc Cang bị sát hại.

Trước tình hình khó khăn đó, Huỳnh Tấn Phát có sáng kiến làm báo nguyên tử, là tìm một tờ báo “chết dở”, bỏ vài chục ngàn bạc Đông Dương, mua lại manchette, rồi bất thình lình ra số đặc biệt, vạch tội ác giặc và tay sai, cổ vũ các cuộc chiến đấu của quân ta. Báo in xong từ khuya, gần sáng vừa bán vừa cho  không. Đến 8 giờ sáng, bọn kiểm duyệt biết, đi các sạp tịch thu, chỉ còn vài tờ ta để lại lấy lệ. Các ký giả đã “lặn hết”. Ông mua được manchette của tuần báo Bông Lúa, giao cho Mai Văn Bộ và các anh em viết bài, in và phát hành đúng ngày Quốc tế lao động 1/5/1948. Tất nhiên báo vừa phát hành thì bị đình bản ngay. Nhưng cũng đã bán được một số, gây được tiếng vang, yêu cầu chỉ có thế.

Khoảng tháng 10/1948, ông viết bài đăng tờ báo Tinh thần của một nhóm trí thức, đa số là bác sĩ, dược sư yêu nước nhưng không cộng sản. Chủ nhiệm báo là bác sĩ Huỳnh Kim Hữu cho đăng bài báo và giới thiệu Huỳnh Tấn Phát là một trí thức yêu nước nhưng không cùng chung xu hướng với họ, cho đăng để rộng đường dư luận. Với lập luận rõ ràng, phân tích vì sao các cuộc khởi nghĩa của ta thất bại, bài báo đã khiến nhiều người của nhóm Tinh thần tỉnh giấc và sau đó họ tích cực tham gia kháng chiến và ủng hộ tài chính, thuốc men cho kháng chiến. Ông góp ý vẽ maquette cho tờ Độc Lập của Ban Tuyên huấn Sài Gòn - Chợ Lớn, sau đổi là Tiến Lên vì trùng với tờ Độc Lập ở Hà Nội.

Từ năm 1949, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát được cử làm Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ kiêm Giám đốc Sở Thông tin Nam Bộ, sau đó làm Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính Đặc khu Sài Gòn, trực tiếp phụ trách Đài phát thanh Tiếng nói Sài Gòn - Chợ Lớn Tự do ở chiến khu Đ. Ông đã hội tụ được đông đảo cán bộ, công nhân viên từ biên tập, phát thanh viên, nhạc sĩ, kỹ thuật, có cả cán bộ người Hoa, giáo sư người Pháp và nhiều cây bút nổi tiếng trước Cách mạng tháng 8 về Đài.

Ngày 25/1/1951, Đài Tiếng nói Sài Gòn - Chợ Lớn Tự do bắt đầu phát sóng, thu hút được đông đảo người nghe ở một thành phố lớn. Tập thể Đài có 60 người, nhưng là người tứ xứ. Ông Huỳnh Tấn Phát đã là trung tâm thể hiện tinh thần đoàn kết và phát huy tài năng của mọi người cho Đài phát huy tác dụng tuyên truyền, cổ vũ tinh thần kháng chiến của quân và dân ta cho đến ngày Đài chấm dứt nhiệm vụ vào năm 1953.

Khi còn làm việc, ông quan tâm chu đáo đến mọi người. Khi tờ báo, Đài giải tán, ông lo tìm việc cho những người chưa có việc. Từ đó, dù không sống với nhau, nhưng đồng nghiệp thời làm báo luôn nhớ về ông, kính trọng ông, biết ơn ông. Có một giai thoại kể rằng: “Thời làm báo ở Sài Gòn, nhà báo, nhà văn Ngô Tất Tố có lần nhận thư nhà ngoài Bắc kêu cứu. Qua đường Catinat, tác giả truyện Tắt đèn, thấy Huỳnh Tấn Phát - chủ nhiệm báo ngồi dùng cà phê trong tiệm, bèn mời ra lề đường nói nhỏ. Ông Phát liền mở bóp, rút tờ giấy bạc cái lư (một trăm đồng Đông Dương), đặt nhẹ vào tay bác Tố”.

Ông Huỳnh Tấn Phát và bà Bùi Thị Nga (giáo viên trường tư) kết hôn tháng 6/1945. Họ có 6 đứa con gởi bà ngoại và hai em gái nuôi, để bà dễ hoạt động cách mạng.

Ngày 5/5/1960, bà bị bắt giam ở nhiều trại giam, từ bót Bà Hòa, nhà tù Phú Lợi, trại Thủ Đức, đến 3/10/1964 được trả tự do tại nhà tù Chí Hòa. Huỳnh Lan Khanh là người con thứ hai, sinh tháng 9/1948. Đang là nữ sinh lớp đệ nhị (lớp 11) trường áo tím Gia Long (nay là trường Nguyễn Thị Minh Khai), có tiêu chuẩn ra Bắc đi học, nhưng chị xin vào chiến khu làm văn thư, đánh máy cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.

 Sáng mồng 4/1/1968, Lan Khanh cùng anh Thắng và anh Giỏi đi tải gạo. Đến Trảng Dài (Suối Chò, Tây Ninh) thì lọt vào ổ phục kích của lính Mỹ, hai anh trúng đạn hy sinh tại chỗ. Lan Khanh bị bắt đưa lên trực thăng chở về Sài Gòn. Không chịu khuất phục, khi máy bay cất cánh, chị đã dũng cảm nhảy từ trên cao xuống. Ba ngày sau, đơn vị tìm thấy xác chị mắc trên ngọn cây, cách chỗ phục kích nửa cây số.

Hiện ở quận 7 có một con đường mang tên Huỳnh Tấn Phát, quận Tân Bình có một con đường mang tên Huỳnh Lan Khanh, để ghi nhớ sự đóng góp lớn lao của ông và con gái cho công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

                                                                                                                                                                      P.T.H.

logo logo