Danh mục

Nguyễn Trọng Xuất - Ngày: 31/01/2020

                 KỶ NIỆM VỚI ĐÀI PHÁT THANH GIẢI PHÓNG *

                                                                                            Trần Bạch Đằng

Như mọi kỷ niệm, cần phải lùi thời gian vào lúc sự việc xảy ra, có sự việc thành kỷ niệm nhưng gần chúng ta và có sự việc chất chồng năm tháng. Dù sao, đã nói tới kỷ niệm tức là nói tới tình cảm để lại trong người của sự việc.

Tôi “giáo đầu” hơi dài một chút bởi ngày nay một Đài phát thanh lên tiếng không còn là chuyện to tát nữa khi kỹ thuật truyền thông, đặc biệt kỹ thuật nghe nhìn phát triển đến độ như chúng ta thấy.

Đài phát thanh Giải phóng ra đời từ mùa mưa 1961. Chữ ra đời ở đây được hiểu là từ lúc Đài đưa tiếng nói lên không gian thử nghiệm với những đoạn trích đọc tác phẩm “Thủy Hử”.

Bấy giờ cuộc đồng khởi ở Nam Bộ đã chuyển thể cách mạng. Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã ra đời. Ngoài Thông tấn xã Giải phóng, chúng tôi tập trung vào mục tiêu xây dựng Đài phát thanh Giải phóng – một loại công trình trọng điểm.

Thoạt đầu Đài định đặt tại vùng Lò Gò – Bến Ra – Tà Nốt, khu “đại bản doanh” của cơ quan Tuyên huấn Xứ ủy, đầu nguồn sông Vàm Cỏ Đông (nay thuộc huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh). Nhưng, địch lại ủi một con đường sát căn cứ chúng tôi, chúng tôi gọi là “Lộ ủi Trần Lệ Xuân” phục vụ cho việc khai thác gỗ, bố trí các khu dinh điền và chia cắt vùng giải phóng.

Toàn bộ cơ quan lãnh đạo của Xứ ủy và Mặt trận Trung ương phải chuyển sang Mã Đà thuộc chiến khu Đ – địa hình đồi núi đầy cây mây và mật cật, vắt và muỗi Anophene. Âm khí Mã Đà thật nặng nề, xa nguồn tiếp tế lương thực, ngay hạt muối cũng quí hiếm.

Tôi nhớ, một hôm “bố già” nấu bếp của chúng tôi pha mắm ruốc với trái trường – thứ chôm chôm rừng rất chua – “chiêu đãi” các đồng chí làm việc chung với tôi: cơm trộn khoai mì, thức ăn là mắm ruốc chế biến ở trên. Thế mà anh Nguyễn Văn Hiếu ăn xong khen nức nở: ngon chưa từng…

Đội ngũ kỹ thuật gồm các đồng chí từng công tác ở phòng Vô tuyến điện Nam Bộ thời chống Pháp như: Tám Tòng mày mò lắp ráp máy với công suất thật bé nhỏ, phần lớn phụ kiện phải tự tạo lấy.Máy nổ là đầu một chiếc ô tô tải chiếm được từ trận Phước Thành. Dưới mái chòi lợp lá mật cật, Đài phát thanh Giải phóng bắt đầu phát thử. Xướng ngôn viên thu tiếng nói bằng một máy ghi âm bụng tròn cổ lỗ sĩ, chưa có phòng thu âm.

 

 

 

 

 

 

 

 

                         Xướng ngôn viên Đài phát thanh Giải phóng.

Cái gay go là xăng. Đầu máy ô tô già nua ngốn xăng kinh khủng! Toàn bộ lực của cơ quan Tuyên huấn phải vượt ba ngày đường bận đi và bốn ngày đường bận về theo “đường cò” – tức không dám đi theo đường mòn sợ đụng biệt kích mà tự cắt đường, cò cây làm dấu, lên và xuống hàng trăm ngọn đồi trơn trợt, vượt hàng chục ngọn suối hung hãn, băng qua lộ 16 Tân Long, phía bắc huyện lỵ Tân Uyên để nhận gạo, muối và xăng.

Các đồng chí lãnh đạo đều tham gia các chuyến vận tải hết sức gian khổ này: các anh Trần Bửu Kiếm, Tân Đức, Nguyễn Văn Hiếu, Lê Duy Nhuận… Đường đi đã khó, đã xa lại phải đổ máu cho bầy vắt, cho dây kim cương cứa đứt chân và đôi khi bị địch phục kích. Lực lượng bảo vệ vừa lo an toàn cho đoàn tải, vừa phải lăn ngược những thùng xăng 200 lít về căn cứ. Mấy đồng chí cận vệ của tôi, nhất là đội trưởng Thiếp, đội phó Vơi, trực tiếp lo vụ xăng.

Mọi mệt mỏi đều tan biến khi chúng tôi nhận được điện của các địa phương từ Nam Trung Bộ đến đồng bằng sông Cửu Long và ngoại ô Gia Định báo rằng đã nghe được chuyện “Võ Tòng đã hổ” trên làn sóng 25m. Người phụ trách trực tiếp Đài là anh Nguyễn Văn Hiếu sung sướng ra mặt.

Tuy nhiên căn cứ Mã Đà không phải là nơi mà cơ quan đầu não của kháng chiến miền Nam có thể đứng lâu dài: tách biệt với cư dân, tiếp tế khó khăn, bệnh sốt rét ác tính hoành hành… Chính ở đây, cả đoàn Văn công Giải phóng, người phụ trách là anh Lý Văn Sâm và anh em ở Đài phải vào rừng đào củ chụp để lây lất qua ngày.

Trong khi đó chiến khu Dương Minh Châu đã hồi phục lại phong độ. Bọn ủi đường, phá rừng, các nhóm dinh điền bị quân ta đuổi chạy. Cơ quan lãnh đạo quyết định quay trở về căn cứ cũ. Dù phải gồng gánh khá nặng, phải vượt quốc lộ 14, quốc lộ 13, sông Sài Gòn, chúng tôi “mã hồi” nhanh cấp kỳ. Hàng nghìn con người thu ngắn 200 km trong vòng non tuần lễ, còn dừng chân ở gần Tống Lê Chân biểu diễn một đêm văn nghệ có múa sạp hẳn hoi!

Căn cứ trung tâm của kháng chiến miền Nam triển khai từ men quốc ộ 13 sang đến đầu nguồn sông Vàm Cỏ, dọc theo biên giới Campuchia. Căn cứ trung tâm đó chia làm ba cụm: về phía đông thuộc Bộ chỉ huy Quân giải phóng, ở giữa của Trung ương Cục và Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng; phía tây từ quốc lộ 22 ra bờ sông thuộc Ban Tuyên huấn, Ban An ninh và Ban Dân y.

Trở về “đất thánh”, chúng tôi dồn sức cho Đài phát thanh Giải phóng sớm “khai trương”. Khu vực phát sóng tương đối khang trang, có hầm đặt máy nổ, hầm đặt máy phát; khu bá âm còn khang trang hơn, đã có studio – vẫn dưới hầm cho xướng ngôn viên. Chúng tôi đã mua được máy phát điện cỡ lớn và máy ghi âm loại tốt, sử dụng thu được tốp nhạc của đoàn Văn công Giải phóng và nhận được qua con đường Nam Vang, còn các bóng đèn công suất cao do Hà Nội chi viện.

Tình hình tiếp tế lương thực, thực phẩm không còn gay gắt nữa nhờ chúng tôi khai thác đường sông; nhờ từ căn cứ tới Xóm Giữa đông dân khá gần; nhờ quan hệ với phía bên kia biên giới khá tốt. Vả lại thú rừng còn khá nhiều. Bắn được một con voi, cơ quan chúng tôi – cơ quan đông nhất trong chiến khu lúc đó – đủ thực phẩm cho cả tuần lễ.

Chuẩn bị cho nội dung, tiết mục song song với chuẩn bị kỹ thuật. Chúng tôi quyết định khi Đài chính thức lên tiếng thì ngoài tiếng Việt phải có tiếng Khmer, tiếng Quảng Đông, tiếng Bắc Kinh, tiếng Anh, tiếng Pháp. Lực lượng biên tập tương đối đủ, do anh Trần Bửu Kiếm phụ trách thay anh Nguyễn Văn Hiếu đi công tác ở nước ngoài. Chúng tôi động viên những ai biết ngoại ngữ (những ngôn ngữ mà Đài phát) tham gia công việc của Đài. Anh Thành Kỉnh viết báo Sống Chung, Trung Lập ở Nam Vang về trợ lý cho anh Trần Bửu Kiếm, cùng một số anh em Năm Xuân, Thanh Tụng… đều là cán bộ viết báo ở Campuchia.

Ngày được chọn khai trương Đài phát thanh Giải phóng là Tết năm 1962.

Trước đó mấy hôm, chúng tôi phát thử liên tục nhiều buổi, mỗi buổi 15 phút và yêu cầu các địa phương điện cho biết có nghe được hay không? Tin tức gởi về đều khích lệ. Nhưng, đến hôm phát chính thức, lúc đầu tình hình lại xấu. Toàn bộ bộ máy lãnh đạo Ban Tuyên huấn tập trung ở Đài phát thanh Giải phóng “nín thở theo dõi”. Sau đài hiệu – bài “Giải phóng miền Nam” của Huỳnh Minh Siêng (nhạc sĩ Lưu Hữu Phước) – xướng ngôn viên (nữ) và Thành Kỉnh (nam) cất tiếng: Đây là Đài phát thanh Giải phóng, tiếng nói của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, phát thanh trên làn sóng X mét.

Điện thoại từ Bộ chỉ huy quân sự, Trung ương Mặt trận, Trung ương Cục đồng loạt reo và cho biết: không nghe được. Không nghe được tiếng người nhưng nghe được các âm thanh của một Đài phát thanh. Chờ điện của các địa phương thì còn lâu. Phải giải quyết tình hình này như thế nào? Nhuệ khí của chúng tôi xẹp xuống, người cau có hơn hết là anh Trần Bửu Kiếm. Nhưng biết làm sao? Chẳng lẽ ngưng buổi phát thanh lại? Giữa lúc đó giáo sư Nguyễn Ngọc Thưởng – người biên tập tiếng Pháp đặt vấn đề: người ta có biết đây là Đài phát thanh Giải phóng hay không? Mọi người trả lời chắc chắn là biết. Anh Thưởng nói:

- Vậy thì cứ phát!

Tất nhiên mọi người chờ quyết định của tôi. Tôi suy nghĩ khá lâu, nhìn các đồng sự mà lòng xốn xang. Sau cùng tôi quyết định:

- Tiếp tục phát.

Tuy buồn nhưng mọi người vẫn ngồi tại chỗ, theo dõi buổi phát thanh qua chiếc radio. Tất nhiên, từ phòng phát sóng đến văn phòng của Đài không quá 10m nên chúng tôi nghe rất rõ, nhưng chẳng lẽ Đài Giải phóng phát để cho những người của Đài Giải phóng nghe?

Giữa lúc ấy điện thoại lại reo: Thông tấn xã Giải phóng đã nhận được tín hiệu của ba nơi là Bến Tre, Cần Thơ, Biên Hòa, cho biết họ nghe rõ Đài Giải phóng và gởi lời chúc mừng Đài. Nghe được tin đó, chúng tôi lên tinh thần trở lại. Chẳng bao lâu sau điện thoại lại reo, bây giờ bên Quân sự và Trung ương Mặt trận đã nghe được Đài. Khi Đài chuyển sang phần tiếng nước ngoài, Thông tấn xã lại điện báo cáo liên tục: các nơi đều nghe được, đặc biệt Khu 5 và cả Hà Nội.

Từ đó, chúng tôi tập trung củng cố phần kỹ thuật và nội dung của Đài, thêm phần văn nghệ và thỉnh thoảng có những lần tường thuật mít tinh hoặc phát lời của Chủ tịch Mặt trận Giải phóng. Đài phát thanh trở thành công cụ thông tin quan trọng của cách mạng miền Nam, là phương tiện truyền đạt nhanh nhất chỉ thị của Trung ương Cục đến các cấp. Đài được Trung ương chi viện thêm thiết bị, biên tập và nhân viên kỹ thuật. Đài Hà Nội cũng tiếp âm cho Đài Giải phóng để Đài vươn xa và mạnh hơn. Một bộ phận thứ hai của Đài Giải phóng được xây dựng ở miền Bắc để đề phòng sự cố xảy ra tại chiến trường.

Tuy nhiệm vụ của tôi là phụ trách chung các ngành của Ban Tuyên huấn, nhưng vẫn dành một thời giờ thích đáng cho Đài. Văn phòng của tôi liên lạc trực tiếp với Đài bằng điện thoại và bằng giao liên. Một số bài bình luận được giải quyết cấp tốc ngay trong giờ phát. Tác dụng của Đài Giải phóng là như thế nào, mọi người đều biết. Cuộc chiến đấu để nâng cao chất lượng của Đài, cũng như bảo vệ Đài đòi hỏi luôn cả hy sinh của cán bộ nhân viên.

Từ tháng 4 năm 1965, tôi được điều động xuống công tác ở khu Sài Gòn – Gia Định, không phụ trách Ban Tuyên huấn nữa, tức không làm việc hàng ngày với Ban Giám đốc Đài, nhưng tôi vẫn theo dõi hoạt động của Đài với tất cả tình cảm, thường gởi ý kiến về đóng góp.

Ngày nay, anh chị em cựu cán bộ, nhân viên củaĐài phát thanh Giải phóng dù đã hơn 30 năm qua, không bao giờ quên những giờ phút rung động khi cách mạng miền Nam cất tiếng qua một Đài phát thanh từ chiến khu. Kỷ niệm Đài phát thanh Giải phóng là kỷ niệm những ngày rất đẹp của cuộc sống và chiến đấu giành lại nước nhà thống nhất. Mọi kỹ thuật thuở ấy có thể đi vào dĩ vãng, nhưng cái hồn để làm nên Tiếng nói đại nghĩa mãi mãi mang sức sống.

 

 

Trần Bạch Đằng

(Ủy viên thường trựcBan Tuyên huấn TWCMN)

 

 

 

*Kỷ yếu của Đài phát thanh Giải phóng.

 

 

 

 

 

logo logo