Danh mục

Nguyễn Trọng Xuất - Ngày: 20/06/2019

LÀM BÁO XUÂN TRONG ĐỊA ĐẠO

                                    Thạch Cương

                                                      (Nguyên phóng viên báo Ngọn cờ Gia Định)

Cuộc càn dài ngày Cedar Falls đã biến vùng căn cứ Củ Chi như người bị lột hết quần áo. Bây giờ nhìn từ trên cao xuống, nó tựa như đang khỏa thân nằm tô hô giữa đất trời.

Sau gần hai mươi ngày chạy càn, bắt đầu từ căn cứ Hố Bò, ở đó chúng tôi nhận được tin giặc sẽ đánh dọc theo hai bờ sông Sài Gòn với hơn 20.000 quân Mỹ của các sư đoàn Anh Cả đỏ, Tia chớp nhiệt đới, Lữ đoàn dù 173 và Lữ 199 cùng các chiến đoàn xe tăng, pháo binh, xe ủi, công binh…

Đây là cuộc càn lớn nhất, đánh tiêu diệt Khu Sài Gòn – Gia Định do tướng bốn sao Westmorelandtrực tiếp chỉ huy.

Đêm đó, tranh thủ lúc chúng chưa đổ quân, chúng tôi nhanh chóng vượt sông Sài Gòn sang căn cứ phụ ở Tà Leng (xã Thanh Tuyền, Bến Cát, Bình Dương).

Mới tới nơi, mờ sáng chúng tôi chịu ba đợt máy bay B52 đánh vào căn cứ, may mà các hầm ngủ và hầm bí mật không bị trúng luồng bom. Chưa kịp hoàn hồn đã nghe pháo từ các nơi dồn dập đổ tới. Cả khu rừng căn cứ khói bom B52 chưa tan hết, khói pháo các loại lại bốc lên, cây đổ, lá bị bức xé bay tứ tung loạn xạ. Trong tiếng pháo ào ào, có nhiều tiếng máy bay trực thăng. Rồi rợp trời, hàng đoàn trực thăng bay tới. Mỗi đợt chục chiếc, đổ quân ngay trảng trống ở cửa rừng lối vào căn cứ chúng tôi, chỉ cách chừng 500m theo đường chim bay. Vậy là chạy ô mồ mắc ô mả rồi!

Tranh thủ lúc pháo bắn, chúng tôi rút hết xuống hầm ngủ bàn định, tính toán. Bộ phận bảo vệ báo cáo hầm bí mật chỉ chứa được chục người. Như vậy tốp thanh niên bảo vệ và anh Hồng Thu với tôi phải chạy khỏi ổ trên. Tôi đang bị sốt rét, cứ cữ trưa là rên hừ hừ. Ráng tránh tạm, dợi tối sẽ cắt rừng lên Đường Long vào ổ căn cứ Văn nghệ của nhà thơ Viễn Phương.

Bàn định xong xuôi, chúng tôi chia thành hai tốp. Tốp chui hầm bí mật lên hầm ngủ phía trong, lối ra hầm bí mật cho gần. Còn chúng tôi ra hầm ngoài có gì vòng ra sau rừng cho dễ.

Ngoài trảng chúng đã đổ quân xong. Giờ nghe la í ới rồi tiếng đóng cọc sắt beng beng vọng vào. Vậy là chúng sẽ chốt dã chiến ở đây, giờ đang lo xây dựng căn cứ, củng cố công sự. Vậy sớm nhất thì ngày mai chúng mới mò vào rừng này. Lúc đó chúng tôi đã đi mất tiêu khỏi căn cứ vào lúc tối rồi.

Pháo ngày càng bắn dồn dập vào căn cứ chúng tôi. Vậy càng yên tâm thủ dưới hầm ngủ có nắp dầy. Pháo bắn thế này chúng chưa dám sục sạo vào đây đâu. Cứ ở dưới hầm nhai gạo rang, chờ tối rút đi cũng được. Mọi người dần dần chuyện trò cho bớt căng thẳng, khoảng 10 giờ sáng nghe lẫn trong tiếng pháo cầm canh, có tiếng chém cây rừng loạt soạt. Mến, cậu bảo vệ vội chạy lên nghe ngóng.

Vừa leo bậc thang thò đầu lên khỏi miệng hầm ngủ, Mến bỗng thụt ngay xuống, lắp bắp: “lính! lính!”. Tất cả vội xốc đồ leo lên. Tôi đang bị sốt rét nên chạy sau cùng với anh Hồng Thu bên Huấn học. Bước lên hai bậc hầm, tôi chợt nghĩ tới cuốn sách in ronéo “Năm bước công tác” có đề chữ Ban Tuyên huấn khu Sài Gòn – Gia Định ấn loát. Sợ vì vậy sẽ lộ cơ quan, tôi vội quay lại với lên nóc hầm lấy cuốn sách đút túi quần rồi chạy lên sau. Anh Hồng Thu đã chạy trước tôi được chừng 20m, tôi ráng chạy bắt cho kịp nhưng vì đang sốt nên không thể. Bỗng nghe một tràng súng tiểu liên cực nhanh nổ phía trước, tôi dừng lại thấy anh Hồng Thu đang đâm bổ vào ngay trước mặt một tên lính Mỹ đang cầm dao phát rừng, tay trái nó cầm khẩu súng. Cả hai gần như giáp mặt nhau và cùng kêu lên hoảng hốt. Thấy vậy tôi quay lùi lại phía sau, vòng rừng hướng lên Đường Long. Được cái may cách đây mấy tháng tôi đã cùng một số anh em sang đây xây dựng căn cứ này nên cả khu rừng chúng tôi đã thuộc khi đi cưa cây về làm hầm.

Chạy một quảng xa, nghe pháo nổ rát quá, miểng văng chém cành cây loạt soạt. Tôi vội dừng lại ngó xem quanh đây có căn hầm nào xuống tạm để tránh pháo. Tôi biết ở đây có nhiều hầm ngủ cá nhân lắm. Đó là các hầm đào xuống một thước rồi đục sâu vào trong độ thước rưỡi rồi trổ lên, đóng cọc hai đầu để mắc võng. Thế là đã có một hầm ngủ an tâm tránh pháo. Các hầm ngủ cá nhân này là của các chiến sĩ trung đoàn 761 (Q761) của sư đoàn 9 sau này, năm 1963 các anh đã về đây ém quân, phục kích tiêu diệt tiểu đoàn Biệt động quân “Cọp đen” của quân đội Sài Gòn.

Giữa lúc ấy,mấy trái pháo nổ rất gần, miểng bay vù vù chém vào các cành cây rào rào. Tôi vội lao lên, chọn một hầm ngủ cá nhân gần nhất nhào xuống. Căn hầm bỏ hoang đã lâu, rêu mọc xanh miệng hầm, mấy cây dương xỉ mọc quanh, lá gần như bao quanh miệng hầm. Ở dưới hầm lá mục chất đống dầy hàng tấc thành một tấm thảm rất êm. Một miểng gang của pháo bay vù rồi rớt ngay xuống miệng hầm, tôi thò tay cầm lên thấy nóng rẫy, vội vàng thụt ngay vào giữa đề phòng miểng pháo rớt.

Ở trên pháo vẫn bắn lúc xa lúc gần. Xen lẫn trong tiếng pháo lại vang lên tiếng chặt cây loạt soạt như lúc chúng tôi nghe thấy ở hầm ngủ. Không lẻ pháo bắn như vậy mà tụi lính này vẫn đi, gan thật. Nghĩ vậy, tôi vội lui vào giữa hầm. Bên trên chiếc trực thăng bay thật thấp, cánh quạt phành phạch cứ dội ở ngay trên đầu. Đúng là trực thăng dẫn đường cho bọn biệt kích cắt rừng tới đây. Tiếng soạt soạt chặt cây ngày một gần, xen lẫn có tiếng tên hiệu thính viên nói rất nhỏ vào máy truyền tin PRC25 cứ một giọng đều đều. Thôi, đúng bọn biệt kích Mỹ rồi. Cầu cho nó đi trật hướng căn hầm mà tôi đang trú. Ở đây nhiều hầm lắm, chắc nó không ngờ dưới hầm này có mình. Cứ nghĩ vậy để tự trấn tĩnh và mong tụi nó đi qua cho nhanh.

Thế rồi ở ngay cửa miệng hầm xuống, tôi nghe nhiều tiếng dộng súng lạch cạch, lát sau nghe tiếng nói chuyện trao đổi rất khẽ, toàn giọng Mỹ, rồi nghe loảng xoảng tiếng lon đồ hộp vứt xuống đất. Thôi chết, bọn này nghỉ ở ngay trên đầu mình, tụi nó đang giải lao, khui đồ hộp ăn uống. Lúc này cổ họng tôi thấy ngứa dữ, muốn dằn xuống mà nó cứ chực bật ra. Bật ra lúc này là chết ngay, nó sẽ tìm ra mình đang chui ở đây. Tôi vội moi nhẹ một cục đất vách hầm, vo lại như viên thuốc cho vào miệng ngậm. Vậy mà cơn ho dịu hẳn. Lại nghe đánh soạt một cái ở miệng hầm, tôi giật mình tưởng lựu đạn. Thôi vậy là mình kết ở đây rồi, đành nhắm mắt chờ tiếng nổ. Một lúc thật lâu vẫn êm, mở mắt ra chỉ thấy cái vỏ lon đồ hộp nằm lăn lóc. Lúc đó giữa trưa, nắng chiếu thẳng xuống cây rừng, luồn qua kẻ lá rọi sáng rực miệng hầm.

Cái lon đồ hộp vứt xuống làm mấy con nhái cũng giật mình nhảy lách chách cuống cuồng. Bỗng ngoài miệng hầm thấy tối sầm, ánh nắng rực rỡ đang chiếu xuống bị che khuất bởi một cái đầu đội nón sắt, in xuống. Thằng lính cúi đầu nhìn xuống miệng hầm rồi một con dao phát rừng thò xuống gạt, vẹt mấy cây dương xỉ. Tôi khẻ nín thở, thò tay móc chốt lựu đạn kéo ra. Sẵn sàng “cưa đôi” nếu nó xuống đây. Cây dao lại được kéo lên, nắng chan hòa trở lại. Cái đầu đội nón sắt đã không còn nữa. Chắc nhìn xuống thấy mấy tiếng động lạch xạch bên dưới chỉ là mấy con nhái nhảy trên đám lá khô mục khi bị chiếc lon đồ hộp ném xuống.

Có nhiều tiếng dộng báng súng đứng lên. Tiếng thằng hiệu thính viên lại liên tục nổi lên, xa dần cùng tiếng trực thăng lạch bạch dẫn đường. Đợi một lúc, tôi thở một hơi dài, nhét lại chốt lựu đạn nhưng chưa dám trèo lên vì sợ còn tốp biệt kích khác.

Cho tới tận lúc nắng sắp tắt hẳn tôi mới leo lên. Trên miệng hầm tôi ẩn, một đống vỏ lon đồ hộp khui ăn vứt bừa bãi. Có cả cây dao phát rừng cũng nằm đó, tôi cầm lên coi như món đồ chiến lợi phẩm.

Trời gần sập tối, ngoài trảng trống tiếng máy nổ ồn ào, tiếng lính Mỹ í ới, tiếng đóng cọc sắt, tiếng máy bay trực thăng lên xuống, tiếng xe tăng hú, ụ ồn ào. Vậy là bọn Mỹ đóng chốt dã chiến ở đây, chỉ cách căn cứ chúng tôi vài trăm mét đường chim bay. Căn cứ đã bị lộ, bọn biệt kích đã xâm nhập, bắt người. Nghĩ vậy, tôi đành tính về hầm ngủ trú tạm đêm nay tránh pháo. Sáng mai dậy sớm cắt rừng lên Đường Long, vào căn cứ Văn nghệ.

Về hầm ngủ được một lúc, anh em cũng lục tục kéo về, ai cũng đói, mệt rã rờisau một ngày dưới hầm bí mật.Số chạy khỏi cũng lần lượt bám về. Kiểm lại thấy thiếu hai người là anh Hai Hồng và anh Hồng Thu bên Huấn học. Có một số dấu máu, như vậy cái tiếng tiểu liên tôi nghe lúc anh Hồng Thu chạm mặt tên biệt kích Mỹ là chúng bắn anh Hai Hồng. Có lẽ anh chỉ bị thương vì sau đó có tiếng trực thăng hạ xuống giữa rừng. Chắc chúng chở hai người mà chúng bắt được. Đêm đó xe tăng bao quanh rừng. Pháo vẫn bắn cầm canh vào căn cứ. Ở lại thì mai sẽ bị chúng sục vào, khó tránh. Chúng tôi bàn nhau phải rút đi lúc trời vừa sụp tối một lúc. Đó là thời khắc mà bọn địchcòn đang cuống quít hoàn thành công sự vì sợ ta pháo kích, chưa kịp triển khai canh giữ.

Bảo vệ ra bám, về báo xe tăng địch đang ủi để âm xuống. Cứ khoảng trăm mét một chiếc, pha đèn sáng rực. Chúng tôi nhẹ nhàng, âm thầm rút qua giữa các chốt xe, chạy lên hướng Bầu Khai, qua sông Thị Tính, sang Long Nguyên là ngoài vòng cuộc càn. Thật hú vía!

                                                           *

                                                      *        *

Rừng Long Nguyên khá xanh tốt, chưa bị chiến tranh tàn phá mấy. Có chăng chỉ là mấy đợt B52 vào năm 1965 khi quân Giải phóng về đánh ở Nhà Đỏ - Bông Trang, tiêu diệt cả tiểu đoàn lính Mỹ. Hậm hực, chúng cho B52 ném vuốt đuôi, hú họa vì nghi là đơn vị quân Giải phóng đánh xong rút quân về ém ở đây.

Ở đây, Tuyên huấn T4 có một căn cứ dự bị của Trường Đảng.Chúng tôi tới đấy vào lúc tờ mờ sáng và trụ luôn mười mấy ngày cho tới hết cuộc càn Cedar Falls mới về lại Hố Bò, xây dựng lại căn cứ bị giặc phá nát, để tiếp tục bám trụ.

Về lại căn cứ trên rừng Sến của ấp Phú Lợi, xã Phú Mỹ Hưng, sáng ra ai cũng ngỡ ngàng. Trước kia ở đây cây cối rậm rạp, hầm hố chúng tôi đào chi chít. Nào là hầm ngủ có nắp tránh pháo, hầm làm việc để trống nắp cho có ánh sáng làm việc, bếp Hoàng Cầm, ngách địa đạo thông với đường xương sống của địa đạo chính, kho chứa đồ, kho lương thực, thực phẩm… Bây giờ cây cối bị ủi ngả rạp, chất chồng lên nhau. Hầm bị bới tung, đánh sập. May mà đường xương sống của địa đạo chính vẫn còn nguyên.

Sáng ra, con đầm già đã è è, anh em thường nói đùa là nó làm công nhật, bay lượn, dò la thám thính trên các bãi ủi đổ nát. Chúng tôi được lệnh xây căn cứ bám trụ ngay trên những đổ nát đó. Moi lại các hầm ngủ bị đánh sập, đà lại các nóc bị sập, sửa lại các ngách chống phi pháo. Các nhánh địa đạo nối với đường xương sống bị đánh sập thì đào ngách mới nối vào.

Đang cùng anh em hăng hái đào hầm, xây cứ, thì tốp anh em làm báo chúng tôi được lệnh về Văn phòng Ban làm việc với anh Tư Hoan – Phó Ban. Ngày ấy, tờ Ngọn cờ Gia Định là tờ báo của T4 (Khu ủy khu Sài Gòn – Gia Định) có được sáu người làm chuyên môn. Phụ trách là anh Hải Lý (Lê Đăng Bảng) – cán bộ giảng dạy Lý luận Văn học ở Đại học Sư phạm Hà Nội. Vào Nam năm 1964 để xây dựng trường Đại học Giải phóng.Anh vốn học ở Đại học Sư phạm Bắc Kinh, mới về nước đầu những năm 1960. Đi B vào nhưng đâu có trường mà dạy, anh được về T4 và phân công làm báo. Anh Hai Cơm (Khúc Thừa Tín) hoạt động ở Quảng Nam bị lộ, chuyển vùng vào Sài Gòn 1957, sau bị địch bắt, đầu năm 1960 mới được thả, về Ban tổ chức Khu làm kiểm điểm xong được đưa về tờ báo làm tin, vì lúc ở Quảng Nam anh làm Tuyên huấn huyện Điện Bàn. Tôi và Phạm Văn Thư là giáo viên Văn cấp 3 đi B, xuống đây được chuyển qua viết báo. Hai sinh viên Đại học Khoa học Sài Gòn ra chiến khu cũng được vào làm báo là Minh Lê (Lê Minh Giám) và Quốc Cường, hiện đang xuống nắm tình hình, viết bài về vùng ven, vùng sâu. Minh Lê về Bình Tân, còn Quốc Cường về Nhà Bè.

Tòa soạn còn một thanh niên tên Trung quê Bến Tre, mới đi học lớp báo chí trên R về, chưa viết được gì, giờ lo công việc bảo vệ.

Anh Tư Hoan tới họp với anh em tòa soạn để bàn việc ra báo đặc biệt số Xuân 1967. Anh nhắc lại lời nhắn của Trưởng ban Tuyên huấn Khu, Trần Bạch Đằng gởi anh em tòa soạn:

- Bằng mọi giá, báo Ngọn cờ Gia Địnhphải ra cho được số báo Xuân năm nay. Báo càng bề thế càng tốt, nội dung cố gắng phản ánh khí thế đanh Mỹ của nhân dân Sài Gòn – Gia Định. Bởi trận càn Cedar Falls vừa qua, các báo đài ở trong Sài Gòn huênh hoang là đã bóc vỏ, lột trần căn cứ Việt cộng ở Củ Chi. Số lớn bị tiêu diệt, số còn lại dạt lên Miền. Vì vậy báo Xuân phải ra cho kịp thời, đánh vào tuyên truyền láo khoét của địch.

Nghe những lời anhTư nói vậy, càng thôi thúc chúng tôi phải quyết tâm ra bằng được số báo Xuân đặc biệt trong hoàn cảnh rất khó khăn, thiếu thốn này.

Cuối cùng, anh Tư nói như ra lệnh, câu này thật choáng váng:

- Chỉ còn mười ngày nữa là Tết rồi. Vậy yêu cầu trong hai ngày nữa báo phải hoàn thành cho xong bài vở để nhà in kịp lên khuôn. Dứt khoát sau một tuần, báo Xuân Ngọn cờ Gia Định phải có để kịp gởi cho bà con trong nội thành. Đây là lời báo cáo hùng hồn nhất để chống lại luận điệu xuyên tạc của địch về trận càn vừa qua.

Nói xong, anh Tư lấy ra từ chiếc bòng đeo sau lưng một cuồn giấy cuộn tròn, nói:

- Anh Tư Hỏa (họa sĩ Đào Hữu Phước) đã vẽ 12 ô truyện tranh gởi cho báo Xuân đây, nhưng chưa có lời chú thích. Tôi gởi lại để các anh xem làm thêm chú thích cho trang tranh truyện này.

Anh Tư ra về, tất cả chúng tôi chụm đầu lại bàn việc lên đề cương và phân công viết bài. Cái thời hạn hai ngày phải xong bài vở thật căng vì nếu không thế thì nhà in không làm kịp để có báo trước Tết.

Anh Hải Lý phân công trước:

- Anh Hai Cơm viết một trang tin tổng hợp, nêu bật lên những chiến côngđánh Mỹ trong năm qua.

- Anh Tư Thư căn cứ vào đó viết bài bình luận, nêu bật lên các chiến thắng và nhận định về các thủ đoạn, âm mưu của địch năm tới.

- Anh Ba (tôi) lo tám trang văn nghệ bên trong, gồm một trang thơ và ca cổ, bảy trang văn xuôi và tranh vẽ, thơ đả kích, châm biếm.

Nghe xong tôi cảm thấy choáng. Trời đất! hai ngày phải lo cho xong tám trang, làm sao cho kịp được. Hiểu ý, anh Hải Lý đưa cho tôi một xấp bài vở, trong đó có thơ của hai anh Viễn Phương và Khả Minh. Bài ca cổ theo điệu vọng cố của một anh trong đoàn Văn công Xung kích của R xuống có tựa “Gởi Gò Môn”. Mười hai tấm truyện tranh có tựa “Táo Quân kiện Hoàng Cầm”của anh Tư Họa và hai bài bút ký, một của Minh Lê viết về cô gái Hưng Long tham gia dân công hỏa tuyến ở Bình Tân, một của Quốc Cường viết về Nhà Bè, có tựa “Đây có một rừng người”. Cái tựa hơi là lạ, đọc kỹ mới hiểu thêm ý tác giả. Nếu ở căn cứ ta có: Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù (thơ Tố Hữu) thì ở vùng sông nước đi ra biển này, bao che cho cách mạng là rừng người, lòng dân.

Còn tôi, dịp hưu chiến Noel và Tết Dương lịch vừa qua được xuống xã Phú Hòa Đông dự các hoạt động văn nghệ, văn hóa và binh vận ở đây rất phong phú sôi nổi. Tôi sẽ viết một phóng sự phản ánh lên khí thế đó.

Như vậy tính ra anh Hải Lý giao cho tôi lo tám trang Văn nghệ bên trong, mới chỉ có được sáu trang: hai trang văn xuôi của Minh Lê và Quốc Cường; một trang thơ và ca cổ của các anh Viễn Phương, Khả Minh; một trang tranh truyện của họa sĩ Đào Hữu Phước; một trang phóng sự về dịp hưu chiến vừa qua của tôi. Về nội dung còn thiếu hai trang nữa. Tôi nghĩ và tính viết thêm một truyện ngắn độ trang rưỡi nữa, còn lại nửa trang bìa cuối làm thêm thơ đả kích và nhờ họa sĩ Ba Phến bên anh Viễn Phương vẽ cho bức tranh chế giễu chính quyền Thiệu–Kỳ. Tính như vậy đã thấy hòm hòm. Chúng tôi tản ra, ai về hầm nấy lo bài vở.

Chiều hôm ấy, tôi bắt tay vào viết bài phóng sự. Mới ghi được cái tựa thì nghe bên trên ầm ầm, mấy chiếc phản lực lao xuống dội bom cách hầm tôi vài trăm mét, chắc chúng phát hiện ra hoạt động gì đó. Đợi dứt đợt bom, chúng tôi lên ngụy trang lại hầm, rồi ra xem chỗ chúng vừa dội bom lúc nãy. Mấy hố bom sâu hoắm còn nghi ngút khói. Bên cạnh có xác một con chó vàng nằm vắt trên thân cây. Con chó nhà ai bỏ lại, đi hoang bị đầm già phát hiện kêu phản lực lên tiêu diệt ở các bãi trống vừa ủi. Thật tội! nhưng nhắc nhở việc ăn ở, đi lại phải kỹ lưỡng cũng không thừa.

Đêm ấy, tôi sang Văn phòng xin mấy cây đèn cầy rồi xách thùng đựng đạn đại liên của Mỹ làm bàn viết, chui vào ngách đốt đèn cầy viết tiếp bài phóng sự.

Tôi chui vào ngách phi pháo để viết, vì ngoài hầm anh em giăng võng ngủ đầy, vả lại vào ngách phi pháo kín, đốt đèn ánh sáng không lọt ra, ban đêm đầm già vẫn bay lượn rình mò. Bây giờ cây cối trống trơn, một ánh sáng nhỏ cũng dễ bị phát hiện.

Suốt đêm pháo vẫn nổ cầm canh bên trên. Thỉnh thoảng lại nghe tiếng rít của máy bay phản lực bay tít trên cao, rồi lại nghe oàng oàng, bom nổ. Cách đánh đó chúng tôi gọi là đánh bom trộm, tức là máy bay không lao xuống thả mà cứ bay trên cao cắt bom xuống. Đây là vùng tự do oanh kích, chúng đâu có cần tránh gì. Cái lối thả bom “mục hạ vô nhân” và “pháo đĩ” ở các chốt lắm lúc cũng gây thiệt hại cho ta lắm, vì rất khó tránh, trúng ai nấy chịu.

Tôi cắm cúi viết, tàn hai cây đèn cầy thì xong bài phóng sự. Giở tập truyện tranh ra xem, thấy anh Tư Họa vẽ thật dí dỏm. Ông Táo đội mũ cánh chuồn, mặc áo dài mà không có quần, đang phân bua kiện với Ngọc Hoàng chuyện hạ giới bây giờ làm bếp Hoàng Cầm để tránh khói, lộ bí mật, làm ông Táo thất nghiệp.

Tôi chú thích mỗi bức tranh bằng bốn câu lục bát lối kể chuyện, đại loại:

Hoàng Cầm thất nghiệp Táo Quân,

   Cuối năm Táo kiện ngay lên Ngọc Hoàng.

Chú thích xong 12 bức tranh truyện thì đã khuya, tôi dọn dẹp đi ngủ để sớm mai viết tiếp.

Sáng hôm sau, tôi lại giở đồ lề với thùng đạn đại liên, dàn giá ra tính viết một truyện ngắn. Đang ngồi suy nghĩ chọn đề tài thì nghe tiếng đạn nổ cum cum trên đầu. Tiếng đạn 12ly 7 của xe tăng đang chạy về hướng chúng tôi. Bảo vệ xuống hầm báo: xe tăng từ hướng Trung Hòa ra lộ 7, giở đã vào đến đường 15 ở Xóm Chùa, An Phú, đang chạy về hướng mình. Tất cả ra địa đạo! Dồn các bài và giấy tờ vội vào thùng đạn đại liên, tôi xách chạy ra chui xuống địa đạo.

Tiếng xe tăng mỗi lúc một gần cùng tiếng súng 12ly 7 trên xe bắn dồn dập. Trên trời chiếc trực thăng dẫn đường lại phành phạch cứ như ngay ở trên đầu. Vừa mới càn dài ngày xong, không lẽ lại tiếp tục càn nữa. Nghĩ vậy, tôi bò vào phía trong tìm một lỗ thông hơi có chút ánh sáng chiếu mờ mờ, lấy cây viết và mẩu giấy ra ghi chép.

Địa đạo bốc lên mùi ẩm mốc, một vài tỉn sành vốn là tỉn nước mắm dùng hết được đưa xuống để nếu ai cần tiểu tiện vào đó. Ở trận càn trước, không hiểu người nào tiểu quên đổ đi, giờ bốc mùi khăn khẳn thật khó chịu, tôi cứ phải nhắc khi có người bò đến, sợ đụng nó đổ lênh láng ra thì thật là tai họa.

Tiếng xe, tiếng súng đại liên vẫn rần rần ở trên. Mặc kệ, tôi tập trung nằm suy nghĩ cho đề tài truyện ngắn cho số báo Xuân. Nghĩ mãi, sau thấy mình đang nằm địa đạo, tại sao không viết ngay về đề tài này. Thế là tôi ghi ngay vào giấy cái tựa: Ông già giữ đất và tiếp tục cấu tứ cho câu chuyện.

Trưa hôm đó, khi đoàn xe chạy qua, mọi người trở về, tôi lại xách thùng đại liên đồ nghề xuống hầm viết một mạch cho xong truyện ngắn Ông già giữ đất– nói về hai người du kích một già một trẻ đã ở lại bám đất, làm mìn gạt đánh xe tăng Mỹ. Một lần bị tên chiêu hồi chỉ điểm, bọn Mỹ về phá nắp địa đạođịnh bắt sống du kích. Cuộc chiến đấu dưới địa đạo đã làm cho tên “chuột cống” (lính dò phá địa đạo) Mỹ bị ghim ở dưới nắp hầm địa đạo, để hai người du kích thoát đi ra đường xương sống địa đạo trở về căn cứ an toàn.

Truyện ngắn đó tôi viết liền một mạch đến tối thì xong. Sáng hôm sau sửa lại, làm thêm bài thơ đả kích chuyện bầu bán Tổng thống Sài Gòn là chuyện đem hai con ngựa đá nhốt chung một chuồng (Thiệu-Kỳ) trước sau sẽ đá nhau để giành ăn.

Chiều hôm đó, anh Hải Lý tập hợp bài vở, tất cả đều nộp trước thời hạn. Cứ tưởng cái thời hạn hai ngày mà anh Tư giao là bất cập, nào ngờ vừa tránh xe, né địch vừa viết bài, chúng tôi đã hoàn thành trước một buổi. Xem lại một lần cuối, anh Hải Lý cuộn tròn tất cả các bài vở lại, bọc bao nylon cẩn thận giao cho Văn phòng để đưa gấp lên nhà in ở Lộc Thuận cách đây gần 10 cây số.

Chưa đầy mấy ngày sau ông Táo chầu trời, báo Xuân Ngọn cờ Gia Định 16 trang khổ 40 x 60 đã phát hành khắp nơi trong vùng giải phóng như món quà Xuân gởi đến cán bộ, chiến sĩ trong vùng giải phóng.

Cầm tờ báo Xuân, ai cũng ngỡ ngàngkhen tờ báo bề thế, phong phú, nhất là trang tranh truyện Táo Quân kiện Hoàng Cầm, ai cũng xem thật lâu rồi vui cười với cái ý hóm hỉnh về bếp Hoàng Cầm.

Giáp Tết, giao liên đưa đến hầm tòa soạn một gói đồ. Mở ra có một lá thư của ban lãnh đạo Trí vận phản ánh dư luận và nhận xét của cơ sở bên trong Sài Gòn. Tất cả đều khen và ngạc nhiên vì nghe giặc đánh phá dữ vậy mà cũng có báo Tết ra kịp thời, bà con rất vui mừng, tin tưởng. Hóa ra cái chuyện quân đội Đồng Minh đã tiêu diệt và đánh bật lực lượng cách mạng ở Củ Chi lên tít trên đất Miên chỉ là láo toét.

Kèm theo có một hũ củ kiệu, một ít lạp xưởng của bà con cơ sở nội đô gởi ra cho báo ăn Tết.

Có lẽ về sau, mãi mãi chúng tôi sẽ nhớ, lưu vào ký ức số báo Xuân 1967 của Ngọn cờ Gia Định năm ấy, vì nó vừa khắc phục bao khó khăn để ra kịp thời, gây tin tưởng và chống lại luận điệu phản tuyên truyền của địch.

 

T.C.

logo logo