Danh mục

NGUYỄN TRỌNG XUẤT - Ngày: 08/07/2021

LỊCH SỬ MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT VIỆT NAM

Kế thừa, phát huy truyền thống yêu nước và đoàn kết của dân tộc ta. Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã chủ trương đoàn kết mọi lực lượng dân tộc và dân chủ trong Mặt trận Dân tộc Thống nhất để cùng nhau chống kẻ thù chung vì độc lập tự do của Tổ quốc.

 

Giữa lúc cao trào cách mạng đầu tiên do Đảng lãnh đạo mà đỉnh cao là phong trào Xô viết Nghệ tĩnh đang diễn ra sôi nổi và rầm rộ trong cả nước, ngày 18/11/1930, Ban  vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông dương ra chỉ thị về vấn đề thành lập Hội phản đế Đồng minh, hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt nam.

 

Từ đó tới nay, ở mỗi thời kỳ khác nhau có những hình thức và tên gọi tổ chức cụ thể khác nhau phù hợp với nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng nhưng Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt nam nơi tập hợp các giai tầng trong xã hội vì những mục tiêu lớn của dân tộc luôn tồn tại và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam - người chủ xướng việc hình thành Mặt trận Dân tộc thống nhất trong thời hiện đại - vừa là thành viên tích cực của Mặt trận vừa bằng sự sáng tạo, đúng dắn trong đường lối, chính sách, sự gương mẫu phấn đấu vì lợi ích chung của dân tộc đã được các thành viên của Mặt trận thừa nhận vai trò lãnh đạo.

 

Hiện nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là hình thức tổ chức của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt nam với mục tiêu tập hợp và phát huy sức mạnh của khối Đại đoàn kết toàn dân phấn đấu cho một nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.

 

MẶT TRẬN THỐNG NHẤT PHẢN ĐỂ ĐÔNG DƯƠNG - HỘI PHẢN ĐẾ ĐỒNG MINH  (18/11/1930)

     Ngay từ Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã vạch ra sự cần thiết phải xây dựng một Mặt trận Dân tộc thống nhất nhằm đoàn kết các giai tầng trong xã hội, các tổ chức chính trị, các cá nhân phát huy truyền thống yêu nước, sức mạnh mọi nhân tố của dân tộc phấn đấu cho sự nghiệp chung giải phóng dân tộc.

 

Qua phong trào cách mạng phản đế, phản phong sôi nổi trong cả nước mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh, các tổ chức chính trị với các hệ tư tưởng khác nhau nhưng gặp nhau ở mục tiêu giải phóng dân tộc lần lượt xuất hiện với sự tham gia của nhiều tầng lớp, nhiều dân tộc. Quá trình này cũng khẳng định năng lực cách mạng của các giai tầng trong xã hội, khẳng định vị trí đặc biệt và hệ tư tưởng của giai cấp công nhân với việc định hướng cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Quá trình này cũng khẳng định khối liên minh công nông là cơ sở của Mặt trận Dân tộc thống nhất do Đảng chủ xướng. Trong Án nghị quyết về vấn đề phản đế tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 10 năm 1930 đã nêu rõ sự cấp thiết phải thành lập Mặt trận Thống nhất phản đế. Ngày 18/11/1930 Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông dương đã ra Chỉ thị thành lập Hội Phản đế đồng minh hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng.

PHẢN ĐẾ LIÊN MINH  (3/1935)

Tháng 3 năm 1935, Đại hội Đảng lần thứ nhất đã thông qua nghị quyết về công tác Phản đế liên minh, quyết định thành lập và thông qua điều lệ của tổ chức nhằm tập hợp tất cả các lực lượng phản đế toàn Đông dương. Điều lệ của Phản đế liên minh rộng và linh hoạt hơn Điều lệ Hội phản đế đồng minh. Bất kỳ người hoặc đoàn thể nào thừa nhận nghị quyết, Điều lệ và thường xuyên nộp hội phí thì được thừa nhận là hội viên.

MẶT TRẬN THỐNG NHẤT NHÂN DÂN PHẢN ĐẾ  (10/1936)

Chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân Phản đế được phổ biến qua tài liệu chung quanh vấn đề chính sách mới ngày 30/10/1936 khắc phục những sai lầm trong nhận thức và hành động trong quá trình thực hiện liên minh thời kỳ trước. Việc tập hợp lực lượng trong Mặt trận được công khai qua bức thư ngỏ của Đảng Cộng sản Đông Dương gửi cho Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp bày tỏ sự đồng minh với nhân dân Pháp, kêu gọi ban hành một số quyền tự do dân chủ cơ bản cho nhân dân Đông Dương và hô hào "tất cả các đảng phái chính trị, tất cả các tầng lớp nhân dân Đông Dương tham gia Mặt trận nhân dân Đông Dương".

MẶT TRẬN DÂN CHỦ ĐÔNG DƯƠNG  (6/1938)

Sau khi Mặt trận nhân dân Pháp lên cầm quyền với bản chương trình hành động trong đó có nêu việc thành lập một Uỷ ban của nghị viện điều tra tình hình chính trị và kinh tế ở các thuộc địa, cùng với nhiều nước thuộc địa khác các nhà yêu nước Việt Nam kêu gọi "tiến tới một cuộc Đông dương Đại hội" sáng kiến đó được đảng Cộng sản Đông Dương ủng hộ bằng bức thư ngỏ tháng 8/1936 nêu 12 nguyện vọng cụ thể làm cơ sở cho Đông Dương Đại hội, lời kêu gọi đã dấy lên một phong trào sôi nổi trong nhân dân cả nước.

Tháng 9/1937 một loạt các tổ chức như Thanh niên Dân chủ Đông Dương, Hội Cứu tế bình dân, Công hội, Nông hội ra đời cùng với việc hoạt động công khai và nửa công khai của các tổ chức quần chúng nhuư hội ái hữu, tương tế, các hội hoạt động âm nhạc... từng bước hình thành một Mặt trận Dân chủ Đông Dương.

 

Tháng 6/1938 Đảng Cộng sản Đông Dương gửi thư công khai cho các đảng phái đề nghị gác các ý kiến bất đồng để "bước tới thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương" chính trong thời kỳ này từ những phong trào Mặt trận đã dần hình thành Mặt trận với tính chất của một tổ chức.

MẶT TRẬN THỐNG NHẤT DÂN TỘC PHẢN ĐẾ ĐÔNG DƯƠNG (11/1939)

Tháng 9/1939,chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, Mặt trận Dân chủ Đông dương bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp. Cùng với sự đầu hàng thoả hiệp của thực dân Pháp với phát xít Nhật, vấn đề sống còn của các dân tộc Đông Dương đã đặt ra. Tháng 11/1939 Đảng Cộng sản Đông Dương đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo, chuyển cuộc vận động Mặt trận Dân chủ thành Mặt trận Dân tộc thống nhất chống chiến tranh đế quốc với tên gọi chính thức: Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông dương nhằm liên hiệp tất cả các dân tộc Đông Dương, các giai tầng, đảng phái, cá nhân có tinh thần phản đế muốn giải phóng dân tộc chống đế quốc, bè lũ tay sai của chúng và vua chúa bản xứ phản bội quyền lợi dân tộc. Các tổ chức phản đế phát triển nhanh chóng dưới hình thức bí mật và công khai.

VIỆT NAM ĐỘC LẬP ĐỒNG MINH HỘI GỌI TẮT LÀ VIỆT MINH(19/5/1941)

Năm 1940, quân Nhật kéo vào Đông dương, thực dân Pháp đầu hàng và làm tay sai cho phát xít Nhật. Tại Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8, theo đề nghị của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc, Mặt trận dân tộc thống nhất chống phát xít Pháp Nhật với tên gọi Việt nam Độc lập đồng minh gọi tắt là Việt minh đã ra đời ngày 19.5.1941 lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm cờ của Việt minh và làm cờ tổ quốc "khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà".

Mặt trận Việt minh thu hút được mọi giới đồng bào yêu nước, từ công nhân, nông dân, trí thức, tiểu tư sản đến tư sản dân tộc, phú nông và một số địa chủ nhỏ có tinh thần yêu nước, đưa tới cao trào đánh Pháp, đuổi Nhật của toàn dân ta trong những năm 1941-1945, Mặt trận Việt minh là một trong những nhân tố cơ bản bảo đảm cho cách mạng thành công.

Từ sáng kiến triệu tập toàn quốc đại biểu đại hội, Đại hội Quốc dân do Tổng bộ Việt minh triệu tập họp ở Tân trào trong 2 ngày 16-17/8/1945 đã thông qua lệnh tổng khởi nghĩa, quyết định quốc kỳ, quốc ca cử ra Uỷ ban giải phóng dân tộc tức là Chính phủ lâm thời do Hồ Chí minh làm Chủ tịch và ngày 2/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc tuyên ngôn độc lập, đại biểu tổng bộ Việt minh Nguyễn Lương Bằng đọc lời hiệu triệu đồng bào cả nước.

HỘI LIÊN HIỆP QUỐC DÂN VIỆT NAM GỌI TẮT LÀ HỘI LIÊN VIỆT(29/5/1946)

Năm 1946, giữa lúc nước Việt nam dân chủ cộng hoà vừa ra đời phải đương đầu với nhiều khó khăn lớn, một Ban vận động thành lập Hội liên hiệp quốc dân Việt nam gồm 27 người với đại biểu Việt minh là Hồ Chí Minh, được thành lập nhằm mở rộng hơn nữa khối đoàn kết dân tộc.

Việt minh và Liên Việt đã cùng nhau làm chỗ dựa vững chắc cho chính quyền Cách mạng non trẻ đối phó có hiệu lực với thù trong giặc ngoài.

MẶT TRẬN LIÊN VIỆT  -  (3/3/1951)

Năm 1951, trong lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã đi vào giai đoạn quyết liệt, thực hiện khẩu hiệu " Tất cả cho tiền tuyến ", yêu cầu tập hợp các hình thức tổ chức Mặt trận để đoàn kết động viên toàn dân ta tập trung sức người sức của đẩy mạnh kháng chiến trở nên cấp bách. Với các chủ trương đường lối đúng đắn Đảng Lao động Việt Nam và sự ủng hộ tích cực của các Đảng Xã hội, Đảng Dân chủ, các tổ chức chính trị, các nhân sĩ trí thức trong Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt, hai tổ chức Mặt trận được hợp nhất thành Mặt trận Liên Việt.

Mặt trận Liên Việt đã góp phần động viên công sức của toàn quân, toàn dân lập nên chiến thắng lịch sử Điện Biên phủ, đưa đến việc ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 công nhận chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt nam.

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM - (10/9/1955)

Đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam Việt nam, hất cẳng thực dân Pháp và phá hoại hiệp định Giơ-ne-vơ âm mưu chiếm đóng miền Nam chia cắt lâu dài nước ta. Cách mạng Việt nam lúc này có hai nhiệm vụ chiến lược là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã được hoàn toàn giải phóng và hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà.

Trong bối cảnh đó, ngày 10.9.1955, Mặt trận Tổ quốc Việt nam ra đời với mục đích đoàn kết mọi lực lượng dân tộc và dân chủ, đấu tranh đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai, xây dựng một nước Việt nam hoà bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Mặt trận Tổ quốc Việt nam đã phát huy tác dụng to lớn của mình trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng như trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Mặt trận Tổ quốc Việt nam đã động viên đồng bào và chiến sĩ nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng đánh thắngchiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và hết lòng hết sức đáp ứng các yêu cầu của cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam. Mặt trận Tổ quốc Việt nam đã tích cực tham gia cải tạo Xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và giúp đỡ các nhà tư sản dân tộc thông suốt chính sách làm cho cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh tiến hành thuận lợi, đạt kết quả. Mặt trận đã tích cực góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân, ra sức động viên nhân dân tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, xây dựng chính quyền cách mạng, phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế, thực hiện nếp sống mới, xây dựng con người mới.

MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM(20/12/1960)

Trong cao trào đồng khởi của đồng bào miền Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời (20-12/1960) nhằm đoàn kết toàn dân đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh đổ nguỵ quyền tay sai của chúng, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc. Với đường lối đúng đắn ấy, Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã tập hợp dưới ngọn cờ đại nghĩa của mình các tầng lớp nhân dân, các tổ chức và mọi người Việt nam yêu nước, để cùng nhau chống Mỹ cứu nước.

Mặt trận dân tộc giải phóng không ngừng củng cố và mở rộng khối đoàn kết dân tộc, tổ chức và động viên đồng bào và chiến sĩ miền Nam đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao. ảnh hưởng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng không ngừng được mở rộng trong các tầng lớp nhân dân miền Nam và uy tín của mặt trận đã được nâng cao trên trường quốc tế

 

 

 

 

 

 

 

 

 

      Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập ngày 20/12/1960. Đại hội năm 1962 bầu Ls Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch Đoàn CTUBMTDTGPMNVN

 

LIÊN MINH CÁC LỰC LƯỢNG DÂN TỘC DÂN CHỦ VÀ HÒA BÌNH VIỆT NAM

Trong cao trào tiến công và nổi dậy đầu xuân Mậu Thân (1968) Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt nam ra đời (20/4/1968). Kết tụ từ các phong trào đấu tranh yêu nước của các giới sinh viên, học sinh, trí thức, đồng bào tôn giáo, công thương gia, nhân sĩ dân chủ tại các thành thị miền Nam, Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt nam bằng những công tác trong nước và ngoài nước đã góp sức động viên xúc tiến các phong trào ấy, tăng thêm sức mạnh cho khối đoàn kết toàn dân, chống Mỹ cứu nước.

Phấn đấu cho một mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, bảo vệ và xây dựng miền Bắc thực hiện thống nhất nước nhà, Mặt trận Tổ quốc Việt nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt nam đã luôn luôn hợp tác chặt chẽ, hỗ trợ nhau tạo nên một sức mạnh không gì lay chuyển nổi của khối đại đoàn kết dân tộc, và đã đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của toàn dân đến thắng lợi hoàn toàn, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất nước nhà.

 

 

 

 

 

 

 

 

                Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam

                                                thành lập ngày 20/4/1968.

 

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

Sau khi cả nước đã được độc lập, sự thống nhất và toàn vẹn của một quốc gia đòi hỏi hợp nhất 3 tổ chức mặt trận. Nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất họp từ 31/1 đến 4/2/1977 tại thành phố Hồ Chí Minh đã thống nhất ba tổ chức Mặt trận ở hai miền Nam Bắc nước ta thành một tổ chức Mặt trận Dân tộc thống nhất duy nhất lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống nhất ý chí của tất cả các tổ chức của các giai tầng trong xã hội, các cá nhân tiêu biểu của các dân tộc, tôn giáo, tầng lớp, các vị lãnh đạo tiêu biểu cho ý chí đoàn kết của dân tộc, luôn phấn đấu xây dựng khối Đại đoàn kết dân tộc vững mạnh thực hiện lời dạy của Hồ Chí Minh vị lãnh tụ của toàn dân tộc: "Mục đích phấn đấu của Mặt trận Dân tộc thống nhất là xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh

 

                                                        (Nguồn : mattran.org.vn)

 

Lịch sử Báo chí Việt Nam năm 2020 ghi cột mốc đáng nhớ: 95 năm ngày ra đời tờ Thanh Niên do Bác Hồ sáng lập (21/6/1925 – 21/6/2020) và 70 năm ngày thành lập Hội Nhà báo Việt Nam (21/4/1950 – 21/4/2020).

Ban biên tập Câu lạc bộ Truyền thống kháng chiến Khối Nhà báo cao tuổi trân trọng giới thiệu sự kiện lịch sử này:

               70 năm Hội Nhà báo Việt Nam (21/4/1950 – 21/4/2020) 

                                                   *****

 

THÁNG 4, ĐIỀM MẶC! (1) 

                                                                              Nguyễn Xuân Luơng

“Nhớ từng rừng núi bờ tre,

  Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy

  Ta đi ta nhớ những ngày,

  Mình đây, ta đó, đắng cay những ngày”.

                                                  (Tố Hữu)

HỘI NHỮNG NGƯỜI VIẾT BÁO VIỆT NAM RA ĐỜI

Địa danh Ngòi Thia, sông Đáy giữa núi ngàn Việt Bắc, đúng hơn là Thái Nguyên - thủ đô gió ngàn thời ba ngàn ngày nếm mật nằm gai, chính là cái nôi ra đời của Hội Nhà báo Việt Nam, tên cúng cơm là Hội những người viết báo kháng chiến, sau là Hội Nhà báo Việt Nam. Đó là ngôi nhà chung của thế giới cầm bút thời đại Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 4 năm 2020 này là tròn 70 năm sau ngày “cắt rốn”. Thiêng liêng và hùng tráng bởi ký ức đầy ắp cả trong hạnh phúc dâng hiến, đan xen nhọc nhằn, cay đắng khó quên trong cuộc trường chinh ngàn vạn dặm cả trong hòa bình lẫn thời bom rơi đạn nổ.

Đất nước, Tổ quốc, giang sơn xứ sở chẳng thế nào quên được. Hai tháng sau đêm kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19/12/1946) tại Hà Nội, Đảng, Chính phủ, Bác Hồ ra quyết định chiến lược di chuyển “bộ não” đất nước lên chiến khu Việt Bắc, tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ 3.000 ngày Nếm mật nằm gai, quân đi rầm rập như là đất rung. Tết kháng chiến đầu tiên năm 1947 (Đinh Hợi), qua làn sóng điện của Đài Tiếng nói Việt Nam (lúc đó đặt tại chùa Trầm, Hà Đông), Bác chúc Tết đồng bào, chiến sĩ cả nước với thông điệp: “Kháng chiến tất thắng, kiến quốc tất thành”.

 

(1)Điềm Mặc: tên một xã ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, cái nôi của cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp và của Hội Nhà báo Việt Nam.

Tố Hữu viết:

Hồ Chí Minh

  Người ở khắp nơi nơi…

  Người là Cha, là Bác, là Anh

  Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ

  Người ngồi đó với cây chì đỏ

  Vạch đường đi từng bước, từng giờ”.

Với bộ óc thông tuệ cùng cây chì đỏ, cuối xuân đầu hè năm 1950, Bác và Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị thành lập Hội những người viết báo Việt Nam (nay là Hội Nhà báo Việt Nam). Đại hội diễn ra tại xóm Ròng Khoa, xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 21/4/1950.

Tham gia Đại hội đầu tiên có đại diện các báo: Sự Thật, Cứu Quốc, Độc Lập, Sinh hoạt nội bộ, Lao Động, Vệ Quốc Quân, Văn Nghệ, Phụ Nữ, Tiền Phong, Việt Nam Thông tấn xã, Đài Tiếng nói Việt Nam… Nhà báo Xuân Thủy được bầu làm Hội trưởng (sau gọi là Chủ tịch). Các Phó Hội trưởng là: Hoàng Tùng (báo Sự Thật), Đỗ Đức Dục (báo Độc Lập); Tổng thư ký hội là Nguyễn Thành Lê (báo Cứu Quốc). Các ủy viên: Quang Đạm (báo Sự Thật), Trần Lâm (Đài Tiếng nói Việt Nam), Hoàng Tuấn (Việt Nam Thông tấn xã), Đỗ Trọng Giang (báo Lao Động), Như Quỳnh (báo Phụ Nữ).

Ngày khai trương Di tích lịch sử thành lập Hội, nhà báo Hoàng Tùng kể, hồi đó tuy nhiều khó khăn, nhưng Đại hội được tổ chức chu đáo (nhưng không có chén – ông cười rồi kể chuyện của Chính phủ).

Chuyện rằng, cận Tết Đinh Hợi 1947, Hội đồng Chính phủ họp trong khu rừng Sơn Dương (Tuyên Quang) không có đèn dầu, chỉ có đống lửa bập bùng cháy. Kết thúc phiên họp và cũng là mừng Tết, mừng Xuân, tất cả đều thưởng thức ngô nếp nướng cùng nước chè xanh vừa nấu. Đơn sơ mà nồng ấm. Bác Hồ trong tư thế ngồi xổm liền đứng dậy đọc thơ do Người vừa sáng tác:

“Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay

  Vượn hót, chim kêu suốt cả ngày.

  Khách đến mời ngô nếp nướng

  Săn về thường chén thịt rừng quay.

  Non xanh nước biếc tha hồ dạo

  Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say.

  Kháng chiến thành công ta trở lại

  Trăng xưa, hạc cũ với Xuân này”.

Nói một lèo chuyện cũ, cụ Hoàng Tùng tiếp: “Điều lệ đầu tiên của Hội nêu rõ: Mục đích của Hội là góp phần vào việc xây dựng nền Cộng hòa Dân chủ nhân dân bằng nghề nghiệp của mình, bảo vệ quyền lợi của nhà báo; nâng cao địa vị của nghề báo… Hội lúc đó mới có 800 hội viên, sau đó mới phát triển thêm hội viên, chi hội ở các Liên khu trong cả nước. Hơn 1 tháng sau, ngày 2/6/1950, Bộ Nội vụ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Nghị định số 233-NV/H chính thức công nhận sự hợp pháp của Hội Nhà báo Việt Nam. Tôi nhắc lại việc này để nói Chính phủ rất coi trọng tính pháp lý hoạt động của Hội. Đáng tiếc, nhiệm kỳ hiện nay (X) sắp kết thúc, nhưng điều lệ Hội chưa được cấp thẩm quyền phê duyệt, hóa ra Hội hoạt động không hội đủ pháp lý (?).

Xã Điềm Mặc (Định Hóa, Thái Nguyên) cái nôi của cuộc kháng chiến thần thánh thời 9 năm trường kỳ. Xã có 24 di tích lịch sử cấp quốc gia, trong đó có di tích ra đời của Hội nhà báo Việt Nam. Từ Điềm Mặc có núi Hồng chưa đầy nửa giờ đi xe hơi sang bên kia là đèo De, quần thể nhà lưu niệm Bác Hồ ở Việt Bắc thời nếm mật nằm gai, có lán Nà Lừa, túp lều lá cọ che mưa che nắng để Bác làm việc. Bao nhiêu quyết sách lịch sử của cách mạng ra đời nơi đây, để 9 năm làm nên một Điện Biên chấn động địa cầu. Xa hơn, nơi có xóm Bờ Rạ nằm bên hồ Núi Cốc (Đại Từ, Thái Nguyên) chính là nơi mở lớp đào tạo nghề báo đầu tiên mang tên Huỳnh Thúc Kháng. Do bộn bề công việc, nên Bác đã hai lần gửi thư thăm hỏi, động viên lớp học. Bác kính yêu của chúng ta là như thế!

Nhớ ngày thành lập Hội (21/4) tại núi ngàn Việt Bắc, làng báo nước nhà nao nao nhớ về Quảng Châu, về ngày 21/6/1925 của thế kỷ trước – ngày ra đời tờ báo Thanh Niên do Bác Hồ sáng lập, chỉ đạo. Đó là suối nguồn cách mạng không ngừng tuôn chảy, tựa trăm sông ngàn suối đổ về biển cả. Phải khẳng định rằng không có ngày 21/6 ắt không có ngày 21/4. Ngày lịch sử, ngày truyền thống 21/6 năm nay vừa tròn 95 năm, trùng dịp kỷ niệm 130 năm ngày sinh của Bác Hồ - Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, vị Tổng biên tập đầu tiên, nhà báo số 1 của làng báo Việt.

Qua tìm hiểu, tác giả biết thêm chuyện vui về Bác: tại Điềm Mặc vào tối 19/5/1949, Văn phòng Trung ương Đảng họp mặt mừng sinh nhật lần thứ 59 của Bác, Tổng Bí thư Trường Chinh, cụ Hồ Tùng Mậu, cụ Tôn Đức Thắng, đại tướng Võ Nguyên Giáp… đều tới dự. Sau phần mở đầu vui vẻ, đầm ấm, Bác Hồ cảm ơn rồi đọc thơ:

“Vì nước nên chưa nghĩ đến nhà

  Năm muơi chín tuổi vẫn chưa già.

  Chờ cho kháng chiến thành công đã

  Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta”.

Cụ Hồ Tùng Mậu đọc thơ rồi nói thân tình; “59 tuổi vẫn chưa già, vẫn có thể lấy vợ và nên cưới cho Hồ Chủ tịch một bà vợ”. Mọi người vỗ tay tỏ ý tán thành, coi đó là lẽ tự nhiên của con người. Bác Hồ và cụ Huỳnh Thúc Kháng (Bộ trưởng Nội vụ) như đôi bạn tri kỷ. Một lần cụ Huỳnh ứng tác thơ như câu hỏi thôi thúc vợ con đối với bạn mình:

“Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già

  Cụ ông thì thấy, cụ bà thì không?”

              Bác cười rồi đọc thơ thay trả lời;

         “Non sông một gánh chung nhau gánh

           Độc lập xong rồi cưới vợ thôi”.

70 NĂM CHẮT CHIU, TẦN TẢO VÀ DÂNG HIẾN

Qua bảy thập kỷ đồng hành cùng sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam có trên 25.000 hội viên, trong đó hơn 20.000 nhà báo có thẻ hành nghề. Đội ngũ đó trong gần 2/3 thế kỷ luôn ở mũi nhọn, vượt lên trên cơn lốc xoáy của thời đại để làm nên những trang báo, những bài viết, những tấm ảnh, những phóng sự… giàu ý nghĩa, đầy ý thơ từ trong sâu thẳm tình yêu nước non, giang sơn xứ sở. Một hoạt động có ý nghĩa, phong phú, đậm chất Tết, đó là từ nhiều năm nay Hội báo Xuân đều đặn được tổ chức tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh, thành, thu hút đông đảo công chúng, báo chí cả nước.

Tấm huy chương Vì sự nghiệp Báo chí Việt Nam và sách Chân dung nhà báo liệt sĩ là những dấu ấn khó quên. Các nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng, Nhà nước đồng thời là nhà báo: Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Văn An… cùng nhân sự chủ chốt cùa OIJ, Liên đoàn Báo chí ASEAN… từng được Hội Nhà báo trao tặng và tri ân. Thú vị hơn, nhà báo Ban Dhit – Chủ tịch danh dự Liên đoàn Báo chí Thái Lan (CTJ) sau khi nhận Huy chương đã nhờ thợ vàng ở Bangkok mạ vàng huy chương, bởi ông coi đó là vinh dự hiếm có trong nghề báo.

Người viết bài này (trước đó là tác giả ý tưởng thiết kế mẫu huy chương giúp họa sĩ Phan Kế An chỉ đạo đồng nghiệp sáng tác mẫu), nay đề xuất đến lãnh đạo Hội: ngoài quy định hiện hành, việc trao tặng Huy chương “Vì sự nghiệp Báo chí Việt Nam”, nên chăng quy định bổ sung tặng Huy chương (đặc cách) những nhà báo chưa đủ thâm niên nhưng có thành tích đột xuất trong phòng chống tham nhũng, cứu trợ thảm họa, bảo vệ biển đảo… Mở rộng việc tặng Huy chương môt số vị lãnh đạo các đoàn thể xã hội có công đối với sự nghiệp báo chí nước nhà (mỗi năm xét một lần) như một số bộ, ngành đã làm.

Về quan hệ đối ngoại, hội nhập sâu cộng đồng báo chí quốc tế, bội thu nhiều thành tựu nể trọng. Bốn tháng sau Đại hội lần thứ nhất, đó là tháng 7/1950, nhà báo Trần Lâm và Thép Mới được cử đi dự Đại hội III của Tổ chức Quốc tế các nhà báo (OIJ) họp từ ngày 15/7/1950 tại Helsenki (Phần Lan). Tại Đai hội này, Hội Nhà báo Việt Nam được công nhận là thành viên của OIJ. Vị khách quốc tế đầu tiên đến thăm, làm việc với Hội là Léo Figures - Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, chủ nhiệm báo L’Avant Garde (Tiền Phong) của Đoàn thanh niên Cộng sản Pháp.

Sau ngày Đổi Mới với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của các nước vì hòa bình, hợp tác và tin cậy, Hội là thành viên chính thức của Liên đoàn Báo chí ASEAN với 10 tổ chức thành viên phục vụ 600 triệu dân là độc giả, thính giả. Tuy Tổ chức quốc tế OIJ không còn nữa, nhưng Hội Nhà báo Việt Nam, Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ và một số báo, đài trong nước… là đối tác của nhiều hội trên thế giới như: Pháp, Đức, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trường đại học báo chí Lille (Cộng hòa Pháp)… với nội dung, hình thức hợp tác phong phú, thiết thực, hiệu quả…

Vinh dự của hội được Nhà nước tặng Huân chương Hồ Chí Minh, bức trướng của Đảng tặng giới Báo chí Việt Nam vào ngày 21/6/2000 với 25 chữ: Báo chí Việt Nam Trung thành, Đoàn kết, Đoàn kết, Trí tuệ, Đổi Mới vì sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước”.

Hệ thống tổ chức các cấp hội, các cơ quan báo chí trung ương, địa phương trong 7 thập kỷ vừa qua là đội ngũ trùng điệp, dấn thân trí tuệ, tâm hồn, sức vóc của mình vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, độc lập tự do, hạnh phúc muôn đời của 54 dân tộc anh em trong các cuộc kháng chiến trước đây cũng như trong xây dựng hòa bình, đổi mới, quốc gia khởi nghĩa, hội nhập quốc tế hiện nay. Nhiều cơ quan báo chí ở trung ương, địa phương trở thành đơn vị anh hùng, trong đó có báo Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam

Nhớ ngày 21/4 thành lập Hội – ngôi nhà chung của đội ngũ nhà báo, hội viên nhà báo cả nước chúng ta mãi mãi tri ân trên 450 nhà báo liệt sĩ đã ngã xuống ngoài mặt trận, dâng hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, độc lập tự do của đất nước trong các cuộc chiến tranh vệ quốc.

Mới năm nào lập Hội theo chỉ thị của Bác. Mới năm nào “Bác bảo đi là đi, Bác bảo thắng là thắng”, nay đã tròn bảy thập kỷ. Đội ngũ nhà báo, hội viên Hội nhà báo tự hào đã cùng đại gia đình 54 dân tộc anh em không có gì phải hổ thẹn, vững bước qua cuộc trường chinh dài ba thập kỷ chiến tranh vệ quốc, cũng chừng ấy năm trong Đổi Mới, Quốc gia khởi nghiệp, hội nhập quốc tế để có được ngôi nhà chung rất đỗi tự hào: Hội Nhà báo Việt Nam.

Khi tôi viết những dòng này, đó cũng là lúc tại tòa nhà trên đường Dương Đình Nghệ, Hà Nội, Bảo tàng Báo chí Việt Nam khai trương với hàng ngàn hiện vật, tranh ảnh, mô hình… về lịch sử báo chí nước nhà xưa và nay.

Nhớ, nghĩ, chiêm nghiệm về 70 năm lập Hội. Về xã, về bản Tày Nùng giữa núi ngàn Việt Bắc một thời liệt oanh tên Điềm Mặc, về ngôi nhà chung của làng báo Việt qua năm tháng tần tảo, chắt chiu, dâng hiến không có gì khác hơn, đẹp hơn, lung linh hơn, đó chính là dòng chảy từ suối nguồn cách mạng của tờ báo Thanh Niên do Bác của chúng ta – Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và giáo huấn.

Xin cảm ơn lãnh đạo Hội Nhà báo Việt Nam, văn phòng Hội và Hội Nhà báo Thái Nguyên cùng một số nhà báo đã chủ tâm, cất công với cái tình, cái nghĩa sâu thẳm để làm nhiều việc trong công trình phục chế, bảo tồn Di tích lịch sử, văn hóa quốc gia ở Điềm Mặc và trường cũ đào tạo nhà báo mang tên Chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng bên hồ Núi Cốc tươi đẹp.

Nhớ về Điềm Mặc, nhớ ngày lập Hội… là:

“Mình về mình có nhớ ta

  Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

  Mình về mình có nhớ không

  Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”…

 

                                                          

                                                       Hà Nội giữa mùa chống Covid-19.

                                                                         N.X.L.

 

logo logo