Danh mục

Nguyễn Trọng Xuất - Ngày: 20/06/2019

(*) Theo tác phẩm “Phan Ngọc Hiển bất khuất”, NXB Mũi Cà Mau, Hội Nhà báo tỉnh Minh Hải, 1994.

NGÀY 2/9/1945: KHÍ THẾ PHÙ ĐỔNG

CỦA NGƯỜI SÀI GÒN

Trường Sơn Chí UNG NGỌC KY

Chúng ta nhớ, Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 lần lượt thành công ở Hà Nội ngày 19 tháng 8, ở Huế ngày 23 tháng 8 và ở Sài Gòn ngày 25 tháng 8. Nhưng phải đến ngày 2/9/1945, cả nước mới làm lễ mừng ngày Độc Lập.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại quảng trường Ba Đình lịch sử, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước của dân, do dân và vì dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Từ đó, ngày 2 tháng 9 được gọi là ngày Quốc Khánh, ngày Độc Lập đầu tiên của dân tộc ta sau 86 năm bị thực dân Pháp xâm lược và thống trị, kể từ ngày chúng đánh chiếm thành Sài Gòn cũ ngày 17/2/1859 (không đầy 6 tháng sau  khi chúng đánh phá cửa Hàn thuộc Đà Nẵng ngày 1/9/1858).

Ngày ấy - 2/9/1945 – tại thành phố Sài Gòn, Ủy ban Nhân dân Nam Bộ tổ chức một cuộc mít tinh và biểu tình rất lớn. Lễ đài đặt trên đường Norodom (nay là đường Lê Duẩn) ngay phía sau nhà thờ lớn (nhà thờ Đức Bà).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Có thể nói là hầu hết người dân Sài Gòn đều đổ ra đường. Đúng là cả một “biển người” chưa từng thấy từ lâu lắm rồi ở thành phố này (nghe nói hồi đưa đám tang cụ Tây Hồ Phan Chu Trinh năm 1926, người đi rất đông nhưng vì hồi ấy tôi còn nhỏ quá không được đi dự nên không thể so sánh được).

Cờ rợp trời. Cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc, cờ của các nước Đồng Minh – những từ quen gọi hồi ấy để nói đến các nước: Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch, là những nước đã hợp sức đánh bại trục phát xít gồm 3 nước: Đức, Ý, Nhựt.

Khẩu hiệu giăng đầy các con đường lớn: Việt Nam Độc Lập muôn năm, Việt Minh muôn năm, Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm .v.v… Hồi ấy chưa có khẩu hiệu vô cùng trìu mến “Hồ Chí Minh muôn năm” như ngày nay vì ta mới giành được độc lập chưa đầy nửa tháng trên cả nước (riêng ở Sài Gòn thì mới được một tuần lễ) nên chưa ai được biết Hồ Chí Minh là ai, công đức của người đối với Tổ quốc và dân tộc như thế nào.

Nội dung chính của ngày lễ trọng đại này là hai bài diễn văn của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Nam Bộ và bản Tuyên ngôn Độc Lậpđược truyền từ Hà Nội qua đài Bạch Mai - tên gọi của đàiTiếng nói Việt Nam trong buổi đầu, vì đài đặt tại vùng Bạch Mai, nhưng máy móc hồi ấy còn thô sơ, cũ kỹ nên âm thanh nghe không rõ. Ngay như Liên đoàn Thanh niên Tiền Phong Lê Lai của chúng tôi được bố trí đứng ở đoạn đường trước trụ sở Ủy ban Nhân dân Quận 1 ngày nay, không xa lễ đài bao nhiêu mà cũng gần như không nghe được gì. Đến lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc Lập, giờ phút mong đợi nhất của hàng chục vạn – thậm chí có thể cả triệu - con người có mặt hôm ấy cũng gần như không nghe được gì.

Trong hàng ngũ của nhiều đoàn Thanh niên Tiền Phong đứng gần Liên đoàn chúng tôi râm ran có tiếng phẫn nộ:

- Coi chừng bọn địch phá hoại… Tai sao không nghe rõ được gì?

Cũng có thể là như vậy nhưng khả năng lớn hơn là đài Bạch Mai vốn đã yếu, quá cũ lại ở rất xa, hôm ấy thời tiết lại xấu, trời luôn vần vũ, từng chập lại có những trận mưa, có gió mạnh khiến cho quần chúng khó nghe được đài. Dẫu vậy niềm hưng phấn và khí thế lay trời chuyển đất của quần chúng không vì thế mà suy giảm. Dưới cơn mưa từng chập, quần áo bị ướt nhiều, họ vẫn giữ chặt hàng ngũ, từng đoàn luôn giơ cao hai lá cờ - cờ của Tổ quốc và cờ của đoàn mình – liên tiếp hàng mấy giờ liền hô to, hét vang khản cả giọng:

- Muôn năm! muôn năm!

Vừa hô, vừa hét, vừa tung nắm tay một cách quyết liệt. Chỉ có hai từ “Muôn năm” là nghe rõ, còn đoạn đầu của những khẩu hiệu như: “Việt Nam Độc Lập…”, “Việt Minh…”, “Đảng Cộng sản…” thì bị gió mưa át đi. Từng chập lại rền vang như sóng gầm ở đại dương, những bài hát yêu nước quen thuộc và phổ biến nhất khi ấy là hai bài “Tiếng gọi thanh niên” và “Lên đàng” của Hoàng Mai Lưu và cũng chỉ nghe được giọng chứ không nghe rõ lời. Thỉnh thoảng từ phía lễ đài – nơi tập trung những người  lãnh đạo và nhiều chiến sĩ Cộng sản lại vang lên hùng hồn, đứt đoạn những lời ca mà sau này chúng tôi mới biết, đó là Quốc tế ca: “Vùng lên! Hỡi các nô lệ… Sục sôi nhiệt huyết trong tâm… Đấu tranh này là trận cuối cùng…”.Lúc đó chưa phổ biến bài “Tiến quân ca” của Văn Cao.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trên lễ đài ngày 2/9/1945 đường Norodom (nay là đường Lê Duẩn).

Đến khi các “sư đoàn dân quân cách mạng” diễu hành rầm rập qua lễ đài thì tiếng quân nhạc, tiếng hoan hô, tiếng vỗ tay nổi lên như sấm dậy, tưởng chừng như muốn vỡ tung một khoảng trời Sài Gòn, dù cho các chiến sĩ ta được tập hợp vội vã, đồng phục không đều, thậm chí nghèo nàn, mũ giày đủ thứ, súng ống đủ loại (chủ yếu là súng trường), có cả súng săn, súng bắn chim; có cả mã tấu, dao găm, lựu đạn, tầm vông vạt nhọn; lại có đôi người mang ghết (guêtre)và lòng thòng bên lưng thanh gươm Nhật. Nhịp bước tuy không đều nhưng rất hùng dũng, gương mặt ai nấy đều thể hiện một tinh thần xốc tới, đầu ngẩng cao đầy hùng khí và niềm tin. Vì đó là lực lượng vũ trang “của ta” lần đầu tiên xuất hiện ngay trên nền đường mà trước đây chỉ rầm rập gót giày đinh hỗn xược, kiêu ngạo và bạo tàn, hết bọn lính của thực dân Pháp đến bọn lính của phát xít Nhật, nên đồng bào ta rất xúc động vô cùng phấn khởi và tự hào. Có những miệng cười mừng vui mà như mếu vì nghẹn ngào; nhiều bàn tay, nhiều khăn tay đưa lên chùi nước mắt…

Đoàn diễu hành vừa khuất dạng trên đường Catinat thì liền có những tiếng súng nổ, ban đầu còn lẻ tẻ rồi rộ lên nổ ở nhiều nơi. Rõ ràng là tiếng súng phá hoại của bọn phản động thực dân Pháp. Bọn này từ sau đêm Nhựt đảo chánh 9/3/1945 cho đến một thời gian ngắn sau khi cách mạng nắm chính quyền (từ 25/8/1945), bị quân đội phát xít Nhật tước vũ khí và giam tập trung ở một số khu vực trong thành phố Sài Gòn.

Đến khi quân đội Anh đến với danh nghĩa “Quân Đồng Minh đến tước vũ khí và nhận sự đầu hàng của quân Nhật” thì quân Anh thả hết bọn này và phát nhiều súng cho chúng để chúng chuẩn bị đánh chiếm lại nước ta.

Ngay sau khi có tiếng súng nổ thì tiếng loa trên lễ đài vang lên: “Bọn Pháp phá hoại…”, “Bắt chúng nó…”, “Đồng bào bình tĩnh…”. Rồi không còn nghe được gì nữa, vì hàng chục vạn tiếng thét lên long trời lở đất: “Anh em ơi! Bắt bọn phản động…”, “Trừng trị chúng nó…”. Tức thì như nước vỡ bờ, cũng như các đoàn bạn, anh em Liên đoàn chúng tôi nhào lại hàng rào sắt nhọn của hãng JEAN COMTE (nay là trụ sở của Công ty xăng dầu Việt Nam VITACO), nơi phát ra tiếng súng và khói thuốc súng còn bay phảng phất. Vì yếu đuối và vụng về, tôi bị nhiều người leo vượt qua trước rồi nhảy xuống đất. Lúc tôi đang vất vả leo qua đỉnh rào thì cảm nhận từ dưới có người nhấc tôi lên, giúp đưa qua khỏi đỉnh rào sắt nhọn, rồi lẹ như sóc, người ấy vượt qua tôi, phóng xuống đất và quay lại đỡ tôi. Tôi nhìn anh, bàng hoàng khôn xiết: “Trời! Anh Đào Trọng Sót!”

Chúng tôi cùng chạy lên lầu. Nơi đây, một cảnh tượng bi hùng hiện ra trước mắt. Một bà đầm đầu bạc trắng nằm bất động, mắt nhắm nghiền, mặt tái nhợt có lẻ vì kinh sợ quá mà chết giấc. Ngồi bên cạnh là một thanh niên Pháp ở trần đang ra sức thanh minh với Đội 10 Thanh niên Tiền Phong, vừa của các đoàn bạn, vừa của Liên đoàn chúng tôi; phần lớn dao găm đều rút ra khỏi vỏ. Có một anh có vẻ là thanh niên lao động, áo vá, chân không giày, nón sờn vành, mang mã tấu sáng quắc. Tất cả đều hầm hầm tức giận, riêng đôi mắt anh thanh niên cầm mã tấu thì như rực lửa.

Khi tên Pháp khoảng 25-30 tuổi, thanh minh:

- Đó các ông xem, các ông làm mẹ tôi sợ quá… Tôi lấy danh dự một người Pháp mà nói với các ông rằng tôi không có bắn… hoàn toàn không!...

Tên này định nói thêm gì nữa thì người thanh niên cầm mã tấu gầm lên:

- Danh dự gì bọn mày! Tao chém thấy mẹ mày!...

Rồi anh xốc tới huơ mã tấu. Trong lúc tôi chỉ kịp la: “Không!... đừng!…” thì nhanh như cắt anh Đào Trọng Sót đã nhảy tới che cho tên Pháp, hai tay hai chân dang ra, nói như thét:

- Anh em! Chúng ta hãy tỏ ra mình là một dân tộc văn minh. Chúng ta không tự làm thay công lý tại đây… Tôi đề nghị ta bắt giữ tên này giao cho Ủy ban của chúng ta.

Trong lúc hai anh Vang và Hải giữ chừng anh thanh niên cầm mã tấu, tôi nói với tên Pháp:

- Anh bị bắt! Chúng tôi nghe, thấy rõ tiếng súng phát ra từ đây.

Tôi vừa liếc anh Tư thì anh đã hiểu ý, vừa bước tới vừa tháo cuộn dây mà mọi Thanh niên Tiền Phong đều để sẵn bên lưng, trói hai tay tên Pháp nọ. Anh thanh niên cầm mã tấu dịu hẳn cơn giận, hạ mã tấu xuống. Thật ra vì quá căm hờn mà anh có những lời nói và cử chỉ vừa rồi, chứ anh thừa sức hất anh Sót để hạ thủ tên Pháp (vì anh lực lưỡng hơn). Tôi vừa nhìn anh Vang, vừa kịp thét: “Anh Vang”, thì rất thông minh, anh đã nhanh nhẹn bước tới làm hô hấp nhân tạo cho bà đầm là việc anh rất thành thạo. Tôi nói với tên Pháp:

- Anh ở đây chờ người của chúng tôi đến săn sóc bà cụ và đưa anh đi.

Anh ta cúi mặt lặng yên, thoáng trong ánh mắt vẻ cám ơn. Tôi nói tiếp với toàn đoàn:

- Anh em ta đi tiếp chỗ khác, đề nghị có hai anh ở lại canh giữ tên này, chờ người của ta đến.

Anh thanh niên cầm mã tấu đôi mắt dịu hẳn, tươi cười và hăm hở nói:

- Xin tráng trưởng cho tôi ở lại.

Tôi nhìn anh Hải thì anh liền nói:

- Tôi cũng xin ở lại.

Tôi yên tâm. Chúng tôi đưa tay trái lên tim chào hai anh ở lại theo kiểu chào của Thanh niên Tiền Phong. Trong lúc đoàn sắp bước xuống lầu thì anh Sót quay về phía tên Pháp, nghiêm khắc nói:

- Anh thấy không? Dân tộc Việt Nam chúng tôi như thế đó. Còn các anh thì…

Anh định nói nặng lời nhưng tự kiềm chế được.

Tôi thân thiết choàng vai anh, cùng buớc xuống cầu thang. Trước khi chia tay nhau để cùng đi truy bắt bọn Phápphá hoại, anh Đào Trọng Sót nhìn thẳng vào mắt tôi (Ôi! Anh qua đời đã lâu rồi sau một cơn bệnh, nhưng tôi vẫn nhớ mãi đôi mắt anh nhìn tôi hôm ấy, đôi mắt to, đẹp và trung thực). Với đôi mắt hơi giựt giựt vì xúc động, anh nói hơi nghẹn ngào:

- Anh ít gọi tôi quá! ...

Tôi ôm anh khẽ nói:

          - Tôi bận quá, mong anh Sót hiểu cho.

Thật ra tôi nói dối: lai lịch của anh khiến tôi phải dè chừng, giữ một khoảng cách với anh. Anh đã đậu cử nhân Luật (hồi ấy thuộc lớp trí thức lớn), làm trợ lý báo chí cho Thống đốc Nam Kỳ Hoffel, ra vào văn phòng riêng của Thống đốc như người nhà. Mỗi buổi sáng sớm anh đến điểm báo trong ngày với Thống đốc Nam Kỳ. Anh lại là con rể của Thượng thư Bộ Hình Bùi Bằng Đoàn(1). Do đó, dù anh xin gia nhập Liên Đoàn Thanh niên Tiền Phong chúng tôi khá sớm và dù chúng tôi cùng sống gần nhau ở chung cư Dumortier, trong đêm đi chiếm dinh Khâm sai 24/8/1945, tôi không dám gọi anh, cả hôm nay nữa. Liên đoàn tham gia mít tinh và biểu tình mừng ngày Độc Lập 2/9/1945, tôi cũng không gọi anh. Tôi không hiểu làm thế nào mà anh có mặt hôm ấy đúng lúc chúng tôi truy bắt bọn Pháp phản động và có những lời nói, hành động đẹp như vậy.

Chia tay với tốp của anh Sót, chúng tôi theo đường bên tay phải Nhà thờ Lớn tiến về đường Catinat. Thành phố không còn tiếng súng nổ, tiếng hò hét, cảnh vật êm ả lạ thường. Lúc ấy mới vào khoảng hơn 5 giờ chiều, nhưng vì hôm ấy thời tiết xấu nên có vẻ như gần chạng vạng tối. Đường phố đã vắng lắm rồi. Tôi bỗng sựng lại trước một thanh niên đang lăm lăm chĩa súng lên nóc Nhà thờ Lớn. Tôi sửng sốt khi nhận ra đó là cậu Nguyễn Thành Long, cháu ruột của bác sĩ tên tuổi Nguyễn Văn Thinh, em vợ của người bạn đồng sở với tôi. Tôi cũng không hiểu làm sao em có được khẩu tiểu liên Stenn là loại mới xuất hiện khi quân Anh vào Sài Gòn, trong lúc hầu hết Thanh niên Tiền Phong chúng tôi chỉ có dao găm, lựu đạn và tầm vông. Tôi lên tiếng:

- Long, em làm gì đó?

Cậu thanh niên vẫn không rời điểm ngắm, mắt sáng quắc, đôi môi đang mím chặt, đáp vội vã:

- Tụi nó ở trển. Hồi nãy (tức là cách đó 2, 3 giờ đồng hồ) bọn nó bắn xuống tụi em…

Tôi khuyên em đứng sát vô gốc cây và nói:

- Có anh này ở lại tiếp em.

 

(1) Về sau tôi mới được biết cụ Bùi Bằng Đoàn là một nhân sĩ yêu nước. Cụ đã cùng với cụ Nguyễn Văn Tố trong Quốc Hội khóa 1, giúp cách mạng rất hiệu quả trong việc đối phó với bọn phản động Quốc dân đảng và Đồng Minh hội.

Anh Nhì không đợi phân công, tự nguyện ở lại dù chỉ có một lựu đạn và một dao găm.

Lững thững ra về, đầu óc tôi miên man: Bọn xâm lược tham tàn, phản động, xấu xa, khiếp nhược quá; dân ta hùng dũng quá trong một bức tranh dân tộc đoàn kết tuyệt đẹp đầy khí phách. Hàng chục vạn người lao động như anh thanh niên cầm mã tấu mắt rực lửa căm hờn; ở tầng lớp trên như anh Đào Trọng Sót, con của một Đốc phủ sứ; tỉnh trưởng như anh Cao Văn Tích; người Công giáo sùng đạo có cuộc sống mẫu mực như anh Lê Văn Vang; cháu ruột của một bác sĩ tên tuổi mới 17, 18 tuổi như Nguyễn Thành Long v.v… Tất cả như “Ba quân khí mạnh nuốt sao Ngâu(2) . Họ hành động cứu nước không một chút tính toán gì, xông dưới lằn đạn của quân thù không một chút e dè như Phù Đổng Thiên Vương ngàn năm xưa phá tan quân địch rồi biến mất. Hai câu đối ở đền thờ Người mãi mãi là tấm gương soi cho dân tộc bất khuất, anh hùng này:

Ba tuổi diệt thù hèm đã muộn,

Nghìn trùng bay tít hận chưa cao.

Tôi thầm cảm ơn lịch sử, cảm ơn cách mạng đã cho người dân Sài Gòn một vinh dự thay mặt tuổi trẻ và nhân dân cả nước một cơ hội để bày tỏ can trường và lòng trung thành với Tổ quốc, một cơ hội để rửa mối hận nhà Nguyễn đã làm mất thành Sài Gòn 86 năm về trước.

 

Tháng 3/1995

U.N.K.

logo logo