Danh mục

NGUYỄN TRỌNG XUẤT - Ngày: 08/07/2021

TRÊN CHIẾN HÀO ĐÁNH MỸ

KỶ NIỆM 50 NĂM “ĐỀ CƯƠNG CÁCH MẠNG MIỀN NAM

                                             NHỚ ĐỒNG CHÍ LÊ DUẨN                                                                                                     

“Đề cương Cách mạng miền Nam” và con đường giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Năm mươi năm nhìn lại và suy ngẫm, càng thấu hiểu ý nghĩa lớn lao và phẩm cách cao cả của nhà yêu nước và nhà hoạt động cách mạng Lê Duẩn với quyết định xin ở lại miền Nam, sau khi đã hoàn thành những nhiệm vụ mà Bác Hồ và Trung ương giao cho sau Hiệp định Genève.

                                                 *****

Chiếc tàu áp chót neo đậu ở thị trấn Sông Đốc, Cà Mau. Anh Ba lên tàu như người đi tập kết để che mắt kẻ thù. Đến nửa đêm anh bí mật rời tàu, quay trở lại. Trong hồi tưởng, tôi rất xúc động và cảm phục khi nghĩ về sự kiện lớn lao đó.

Nhớ đến anh, người đã hoàn thành một cách xuất sắc quyết tâm sắt đá của Bác Hồ và Đảng ta, đưa sự nghiệp giải phóng miền Nam đến thắng lợi trọn vẹn, đất nước thống nhất, non sông liền một dải. Càng ngẫm nghĩ, tôi càng kính phục đôi mắt thiên tài về con người – sự nghiệp cách mạng và quyết định cực kỳ sáng suốt của Bác Hồ kính yêu, một lần nữa trao trách nhiệm lớn lao cho anh Ba Duẩn. Về sau này, tôi lại có dịp hiểu thêm khi Người quyết định cử anh Nguyễn Chí Thanh, thay mặt cho Bác, cho anh Ba Duẩn và Bộ Chính trị vào cùng Trung ương Cục chỉ đạo cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước của nhân dân miền Nam lần thứ hai.

Khi anh Nguyễn Chí Thanh đột ngột qua đời, tôi thấu hiểu sự mất mát quá lớn của Đảng, mà trực tiếp lúc bấy giờ là cách mạng miền Nam mất đi một bộ óc chiến lược tầm cỡ, một con người kiên cường với khí phách nắm lấy thắt lưng địch mà đánh, bằng trực diện chiến đấu và dám đánh, dám tiến công mở đường tìm ra cách đánh thắng một kẻ thù có tiềm lực quân sự hơn ta gấp trăm nghìn lần, lại chưa từng nếm mùi thất bại.

Tinh thần tiến công cách mạng, ý chí kiên cường, không mờ hồ về “cam kết của kẻ thù” thi hành Hiệp định Genève, hai năm tổng tuyển cử để hòa bình, thống nhất đất nước, chính là thể hiện ý chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lời kêu gọi sau khi Hội nghị Genève được ký kết: “Trung Nam Bắc đều là bờ cõi của ta, nước ta nhất định sẽ thống nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng”. Cho nên Người chỉ rõ: “Đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ cũng là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ”.

Thấm nhuần tinh thần đó, Đề cương Cách mạng miền Nam được đồng chí Lê Duẩn hoàn thành vào tháng 8 năm 1956 ngay tại Sài Gòn, ở số nhà 29 đường Huỳnh Khương Ninh, quận 1, nay là Thành phố Hồ Chí Minh.

Để bắt tay vào khởi thảo “Đề cương”, anh Ba đã lăn lộn cùng đồng chí, đồng bào, từ đồng bằng sông Cửu Long, thành phố Sài Gòn và miền Đông Nam Bộ. Hiểu thấu nổi đau của sự tổn thất quá lớn phải chịu đựng trước thủ đoạn tàn khốc của kẻ thù, thông cảm với nguyện vọng và ý chí chiến đấu của nhân dân, anh Ba cảm nhận được chủ trương ban đầu không còn thích hợp, ý tưởng định hình trong bộ óc lớn ấy hiện thành câu chữ của Đề cương: “Trong hoàn cảnh đó, nhân dân ta ở miền Nam chỉ có một con đường là vùng lên cống lại Mỹ - Diệm để cứu nước và tự cứu mình. Đó là con đường cách mạng. Ngoài con đường đó, không có con đường nào khác”.

Sau này được đọc lại Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 năm 1959, tôi thấy rõ những ý tưởng cơ bản của Đề cương Cách mạng miền Nam được thể hiện rất nổi bật trong nghị quyết ấy. Đã có những công trình nghiên cứu, so sánh từng câu, từng đoạn trong Đề cương và trong Nghị quyết 15, mà khi được đọc, tôi càng hiểu rõ hơn tầm vóc của tư duy Lê Duẩn, người thật sự thấm nhuần và quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong chỉ đạo thực tiễn.

Cũng phải nói thêm rằng, tuy Đề cương hoàn thành vào tháng 8 năm 1952, nhưng nó được hình thành dần trong tập kết chuyển quân và nhất là sau khi kết thúc chuyển quân từ mùa khô 1955. Đó là thời gian anh Ba tiếp cận ngay tình hình, nhất là lòng dân, ý dân qua nhiều đại phương ở đồng bằng sông Cửu Long. Đó cũng là thời gian địch gây ra những vụ đàn áp đẫm máu các cuộc đấu tranh của đồng bào ở chợ Được Vĩnh Trinh (Khu 5), Mỏ Cày (Bến Tre), Vĩnh Xuân (Vĩnh Long)… Đề cương được thảo luận kỹ trong Hội nghị Xứ ủy mở rộng tháng 12 năm 1956 và mấy tháng đầu năm 1957 ở Pnôm-Pênh, là điểm tựa cơ bản, trở thành cái khung để hình thành Nghị quyết Trung ương lần thứ 15, nhưng quá trình thảo luận và thông qua nghị quyết ấy có nhiều ý kiến khác nhau do tình hình trong nước và quốc tế chuyển biến không ngừng.

Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương khóa II đã phải tiến hành 2 đợt. Đợt 1 từ ngày 12 đến ngày 22 tháng 1 năm 1959. Đợt 2 từ ngày 10 đến 15 tháng 7 cùng năm ấy. Trước khi Hội nghị Trung ương họp, đã có mấy lần họp Bộ Chính trị để chuẩn bị dự thảo báo cáo trình Hội nghị Trung ương.

Là người hiểu rõ tình hình miền Nam, là tác giả của Đề cương Cách mạng miền Nam, lại là người được Bác Hồ giao trách nhiệm cao trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư, song anh Ba kiên trì lắng nghe và thúc đẩy các cuộc trao đổi ý kiến để đạt được sự nhất trí cao trong cơ quan lãnh đạo của Đảng, tiến tới ra đời Nghị quyết 15.

Tôi được nghe hai anh Phạm Văn Xô và Phan Văn Đáng trực tiếp kể rằng: hai anh không thể ở lại quá lâu tại miền Bắc, nên anh Ba Duẩn đồng ý cho hai anh về miền Nam trực tiếp chỉ đạo phong trào. Trước khi hai anh về, anh Ba đề nghị để các anh vào chào Bác, dặn là không nên hỏi gì với Bác. Bác chủ động hỏi:

- Các đồng chí về trong tay không có gì phải không?

Rồi Bác bảo cấp Xứ ủy là lớn, không chỉ chịu trách nhiệm với Trung ương, mà phải chịu trách nhiệm về sự còn mất của phong trào cách mạng, không thể để dân, lực lượng cách mạng bị tổn thất. Khi về hai anh nói lại với anh Ba, anh rất xúc động và vui mừng vì biết được là Bác Hồ đã thấu hiểu nguyện vọng sâu xa và đòi hỏi bức xúc của miền Nam. Tuy nhiên, Bác chưa muốn nói ra ngay trong các cuộc họp của Bộ Chính trị, Người còn muốn lắng nghe cho hết ý kiến của mọi người.

Tấm lòng của Bác đối với miền Nam, những quyết định sáng suốt của Bác đã rọi ánh sáng vào Nghị quyết 15, hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho anh Ba Duẩn. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Bộ Tư lệnh tối cao của chiến tranh nhân dân là Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Sau khi Bác Hồ qua đời, anh Ba Duẩn là người đứng đầu.

Anh đã cùng Bộ Chính trị chỉ đạo sát sao ở cả hai miền Nam Bắc và trên mặt trận quốc tế trong từng bước, trực tiếp đề xuất rất kịp thời từ những chủ trương lớn đến những biện pháp cụ thể, nhất là trong những bước ngoặt của chiến tranh.

Tôi muốn đặc biệt nhắc lại mấy cột mốc lớn thể hiện tầm nhìn chiến lược, sự lãnh đạo sáng suốt của ý chí cách mạng và bản lĩnh tuyệt vời của anh Ba Duẩn.

Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân năm 1968, đồng loạt đánh vào các cơ quan đầu não của địch, đặc biệt ở Sài Gòn, trong đó đánh thẳng vào Tòa đại sứ Mỹ và hàng chục thành phố ở miền Nam, là một đòn chiến lược bất ngờ làm chấn động cả nước Mỹ, đưa thực tế của chiến tranh vào từng gia đình Mỹ, vang vọng rộng lớn, sâu xa trên thế giới, thúc đẩy phong trào nhân dân các nước ủng hộ Việt Nam chống Mỹ, cứu nước; giáng đòn rất nặng vào ý chí của lực lượng xâm lược, chuyển hẳn lợi thế so sánh về chính trị sang thế có lợi nhất về phía Việt Nam, buộc Mỹ xuống thang, tạo lợi thế cho ta trên bàn đàm phán.

  • Với ý chí sắt đá, tư tưởng tiến công của Bộ Chính trị và đồng chí Lê Duẩn, chúng ta kịp thời tập trung quân chủ lực, mở chiến dịch Đuờng 9 Nam Lào rồi chiến dịch Quảng Trị thu hút quân Mỹ và chủ lực ngụy, tạo cho chiến trường Khu 5 và Nam Bộ phát triển.
  • Thất bại liên tiếp, cuối năm 1972, Mỹ tập trung không lực, suốt 12 ngày đêm đánh phá dữ dội miền Bắc, đặc biệt là thủ đô Hà Nội. Chúng hy vọng Đảng ta và quân dân miền Bắc phải chấp nhận cái giá phải trả cao trên bàn đám phàn, nhưng thực tế là ngược lại. Bộ chỉ huy tối cao và người đứng đầu là Lê Duẩn đã không rời Hà Nội một ngày, trực tiếp chỉ đạo và chứng kiến thắng lợi lừng lẫy ghi vào lịch sử trận “Điện Biên Phủ trên không”.
  • Cuối năm 1974, chúng ta có trận chiến giải phóng hoàn toàn thị xã Phước Long (Đông Nam Bộ, cửa ngõ Sài Gòn) cho xuất hiện xe tăng yểm trợ thăm dò. Tiếp theo đó là chiến dịch giải phóng Tây Nguyên và sau cùng là cuộc tổng tiến công và nổi dậy thần tốc năm 1975, kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn ngày 30/4/1975, và ngay sau đó là giải phóng toàn Nam Bộ nguyên vẹn.

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử được chuẩn bị công phu từ hàng năm trước, là một công trình chiến lược, chiến thuật và chiến dịch vĩ đại thể hiện rõ ràng nhất cống hiến lớn lao của anh Ba Duẩn, bản lĩnh của người lãnh đạo kháng chiến, tài thao lược, những dự đoán tài tình cả về cục diện chiến tranh và phản ứng quốc tế, những quyết định táo bạo và rất kịp thời, cùng với Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh là đồng chí Văn Tiến Dũng và các tướng lĩnh khác đã thể hiện tài sử dụng hiệu quả rất cao mọi binh chủng, mọi thứ quân, mọi loại hình của lực lượng vũ trang với niềm tin mãnh liệt vào quân đội anh hùng của ta và nhân dân ta.

Vô cùng tự hào về Đảng ta và người đứng đầu là đồng chí Lê Duẩn, thật sáng suốt tầm nhìn vĩ đại, thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao trọng trách cho đồng chí Lê Duẩn, cùng với Người, và sau này khi Người đã đi xa, đứng đầu sóng ngọn gió, cùng với tập thể Bộ Chính trị, những học trò xuất sắc của Bác , hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc với ngày Toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975 lịch sử.

Tôi cảm nhận sâu sắc rằng anh Ba đã dốc vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, toàn bộ tâm lực, toàn bộ tinh hoa trí tuệ, toàn bộ dũng khí cách mạng tiên công, toàn bộ phẩm chất của người con nhân dân, toàn bộ bản lĩnh của người lãnh đạo, từ lúc bắt đầu kháng chiến cho đến ngày thắng lợi.

 

                                                                  VÕ VĂN KIỆT

                                          (Nguyên Thủ tướng nước CHXHCNVN)

logo logo