Danh mục

NGUYỄN TRỌNG XUẤT - Ngày: 06/07/2021

TỪ NAM BỘ KHÁNG CHIẾN

ĐẾN TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN

                                                                                               Hồng Điểu

Nam Bộ kháng chiến nổ ra trước ngày Toàn quốc kháng chiến 15 tháng: từ 23/9/1945 đến 19/12/1946. Cái gì đã dẫn đến cuộc kháng chiến ở Nam Bộ khi quân xâm lược Pháp nổ súng gây hấn sau khi Sài Gòn vừa khởi nghĩa làm cách mạng cướp chính quyền đêm 24 rạng 25 tháng 8 năm 1945? Giải thích điều này có thể chúng ta phải lùi rất xa trong lịch sử để hiểu sâu hơn vùng đất và con người Việt Nam ở Nam Bộ, từ châu thổ sông Hồng đến khai phá đất phương Nam, sống và chiến đấu trên đất này hàng bao nhiêu thế kỷ trước khi quân Pháp đến.

Tuy nhiên trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ xin nói đên nguyên nhân gần của cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, bắt đầu từ Cách mạng tháng 8/1945, vì Nam Bộ kháng chiến, Toàn quốc kháng chiến chính là sự nối tiếp của Cách mạng tháng Tám.

                                                        I

1/ Cách mạng tháng Tám là sự bừng tỉnh, sự bùng phát chưa từng có của tinh thần dân tộc, đặc biệt ở Nam Bộ. Ai có sống những ngày tháng Tám ở Sài Gòn, ở các tỉnh Nam Bộ, đều nhớ lại không khí đặc biệt của những ngày tháng 8/1945. Người ta đi từ trung tâm Sài Gòn ra cột cờ Thủ Ngữ, đến chợ Bến Thành, vào Chợ Lớn rồi lại trở ra Sài Gòn trên những con đường “thênh thang” mà trước đây phần lớn chỉ có Tây, đầm đi lại như đường Catinat (Đồng Khởi), Galiéni (Trần Hưng Đạo), ngồi bệt xuống thềm đá mát lạnh của dinh Đốc Lý… để tận hưởng cái say sưa của người dân đã giành được độc lập về tay mình.

Một sự kiện đặc biệt mà xâm lược Pháp không thể ngờ: một mảnh đất gần 1 thế kỷ bị cai trị theo chế độ “trực trị”, - khác với chế độ “bảo hộ” của 2 phần còn lại của đất nước Việt Nam, - thế mà tinh thần dân tộc, ý chí giành độc lập, thống nhất lại mãnh liệt đến tuyệt vời: Nam Bộ gắn bó với cả nước ngay khi Cách mạng tháng 8 thành công. Chung một ngọn cờ: cờ đỏ sao vàng; một lãnh tụ Hồ Chí Minh; một chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của nước Việt Nam độc lập… Có một cái gì thiêng liêng như hồn đất Tổ vua Hùng nhiều ngàn năm chảy trong huyết quản của mỗi con người Việt Nam ở Nam Bộ.

Nhưng những ngày tháng Tám hưởng không khí độc lập của Nam Bộ không phải êm ả. Quân Anh - Ấn và một bộ phận của quân Pháp đã đến Sài Gòn. Số lính Pháp bị Nhật cầm tù được thả ra cũng đã bắt đầu nghênh ngang trên đường phố. Cái họa mất nước đã ở ngay trước mắt.

Ngày 2/9/1945, người bắn vào đoàn biểu tình mừng Lễ Độc lập ngay giữa Sài Gòn là một người Anh say rượu bị Pháp kích động.

“Độc lập hay là chết!”. Đó là lời thề ngày 2/9/1945 của Nam Bộ nói riêng, của cả nước nói chung.

2/ Trong không khí hừng hực của dân tộc, vừa say nền độc lập mới giành được, vừa căm thù quân Pháp trở lại muốn tròng ách nô lệ lên cổ dân ta một lần nữa. Chỉ 28 ngày sau Cách mạng tháng 8 thành công ở Nam Bộ, tiếng súng gây hấn của Pháp đêm 22 rạng ngày 23/9/1945 tại Sài Gòn như mồi lửa châm vào chảo dầu sôi. Giữa bối cảnh đó, ai cũng tưởng phát động kháng chiến, đánh trả ngay tức khắc bọn xâm lược Pháp là chuyện đương nhiên. Thế nhưng vẫn có ý kiến khác: “Phải chờ lệnh Trung ương”.

Rất may mà Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ đã có quyết định dứt khoát: vừa kêu gọi kháng chiến ngay tức khắc, vừa báo cáo ra Trung ương.

Nam Bộ đã bắt đầu kháng chiến như thế đó. Đúng ra phải nói: “Nhân dân Việt Nam đã bước vào kháng chiến chống xâm lược, bắt đầu từ Nam Bộ ngay trong ngày 23/9/1945”. Ba ngày sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ: “Tôi chắc và đồng bào cả nước đều chắc vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ… “thà chết tự do hơn sống nô lệ””.

Thực tế trong cả nước đã dấy lên phong trào Nam Tiến, đưa thanh niên tình nguyện vào chiến trường Nam Bộ, cả nước tiếp sức cho Nam Bộ kháng chiến.

 

 

 

 

 

 

 

  

Thanh niên Hà Nội xung phong vào đoàn quân Nam Tiến, tháng 10/1945.

Từ 23/9/1945, quân dân Sài Gòn – Gia Định và Nam Bộ đã cầm chân quân Pháp ở Sài Gòn hơn 1 tháng. Cuộc giằng co cực kỳ ác liệt đã làm kẻ địch vừa bất ngờ vừa kinh hoàng: một thành phố không điện, không nước, không lương thực, cái chết rình rập trên mỗi bước đi của quân xâm lược trên đường phố. Sau đó, ngay khi đại quân của đội quân xâm lược Pháp đã đổ bộ lên Nam Bộ tháng 10/1945, quân dân Nam Bộ, mà chủ lực là nông dân, công nhân, vẫn cầm chân chúng trong chu vi của 21 tỉnh lỵ, không cho chúng nống ra chiếm nông thôn, làm thất bại âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của đội quân viễn chinh nhà nghề do các tướng tài giỏi nhất của Pháp chỉ huy: đô đốc Thierry d’Argenlieu, đại tướng Leclerc…

Một viên đại tá Pháp, ban đầu dự đoán: “Quân Pháp rút gậy ra thì Việt Minh chạy trốn như vịt”. Chuyện đó đã không diễn ra mà chính tướng Leclerc đã suýt bỏ mạng gần An Lạc cuối năm 1945 khi ông ta đưa quân xuống Mỹ Tho (theo thú nhận sau này của tạp chí Historia số 24, xuất bản ở Paris, 1972).

3/ Giả sử lãnh đạo Nam Bộ kháng chiến lúc đó làm khác đi thì dòng chảy lịch sử có ảnh hưởng không? Giả sử theo ai đó, không tiến hành kháng chiến đánh trả ngay quân xâm lược mà rút lui, chỉ thụ động bất hợp tác để chờ lệnh trên, thì tình thế sẽ diễn ra thế nào? Đương nhiên “giả định” là chuyện không xảy ra trong lịch sử, nhưng chúng ta có thể dự đoán được những hậu quả khôn lường nếu việc đó xảy ra:

- Điều chắc chắn đầu tiên là khí thế hừng hực cứu nước của quân dân Nam Bộ sẽ bị một gáo nước lạnh; nếu chưa xẹp xuống thì cũng giảm mấy phần mà sự gượng lại, phát động lại không dễ dàng vì đâu còn cái thế sôi sục ngút trời: Nóp với giáo mang ngang vai nhưng thân trai nào kém oai hùng/ thuốc súng kém, chân đi không mà người người giàu lòng vì nước.

- Điều thứ hai: Nếu rút lui không kháng chiến thì rút về đâu? Phòng ngự thụ động trước xe tăng, tàu chiến, vũ khí tối tân của Pháp bằng cách nào? Nếu không đánh trả làm chùn bước tiến của chúng, như lực lượng cách mạng đã làm ở Thị Nghè, cầu Bông, cầu Kiệu, Thủ Đức, Dĩ An, An Lạc, Bình Chánh, Trung Huyện… thì làm sao đốt được kho xăng Khánh Hội? Làm sao có được cuộc phá nổ kho đạn Pyrotecnic ở Thị Nghè long trời lở đất ngay trong những ngày đầu kháng chiến? Làm sao có trận Kinh Xáng, Long Định (Mỹ Tho), trận Giồng Bớm (Bạc Liêu), trận Cái Răng (Cần Thơ), trận Tầm Vu nổi tiếng? ...

 

                  

          

 

 

 

 

 

       Chiến lợi phẩm thu được trong trận Tầm Vu nổi tiếng, 16/2/1947.

Tóm lại, nếu quân dân Nam Bộ để cho quân xâm lược Pháp chiếm nhanh, chiếm gọn mảnh đất nhiều tiềm năng này của Tổ quốc, thì ai có thể ngăn cản chúng không nhanh chóng tiến quân ra Bắc đè bẹp cách mạng, tiêu diệt chính phủ nước Việt Nam độc lập mới thành lập?

- Điều thứ ba: khi Nam Bộ bước vào kháng chiến, sự kiên định của lãnh đạo, của cấp chỉ huy tại chỗ có ý nghĩa sống còn đối với đội quân cách mạng còn non trẻ, một đội quân khí phách có thừa nhưng kỹ năng chiến đấu, vũ khí, kinh nghiệm trận mạc thì gần như bằng không. Vệ quốc đoàn, dân quân du kích Nam Bộ đứng trụ được nhiều tháng sau ngày 23/9/1945 trước đội quân xâm lược nhà nghề của Pháp là một kỳ tích, mà đồng chí Lê Duẩn so sánh một cách hình ảnh: Nam Bộ đã đưa ngực đỡ tàu chiến. Chính cái khí phách ấy đã làm nên “Cuộc kháng chiến của Việt Nam ở Nam Bộ” 15 tháng trước khi cả nước bước vào Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, mà Trung ương Đảng, Bác Hồ biết là khó tránh khỏi; 15 tháng! Thời gian quý báu để cả nước chuẩn bị trước khi dấn thân vào cuộc chiến đấu trường kỳ kéo dài hơn 8 năm sau, đến Điện Biên Phủ. Và cả 21 năm sau nữa, đến 30/4/1975.

                                                      II

Thời gian 15 tháng Nam Bộ kháng chiến trước Toàn quốc kháng chiến là thời gian cực kỳ khó khăn. Trong 5 tháng đầu, lực lượng cách mạng ở Nam Bộ chịu tổn thất nặng nề: lớp bị thương vong, lớp tan rã, không kể một số đầu hàng giặc… Chuyện đó có thể hiểu được: Đối với một đội quân xuất thân từ phong trào quần chúng, mang tính ô hợp nhất định, chưa từng được tổ chức, huấn luyện bài bản để đương đầu với đội quân thiện chiến, nhà nghề của thực dân Pháp.

 Trung ương và cả nước chi viện cho Nam Bộ để đứng vững: các đoàn quân Nam Tiến, các đoàn xuyên Tây mua vũ khí nước ngoài, xây dựng các đơn vị hải ngoại trang bị súng tốt từ Thái Lan kéo về tham gia kháng chiến, bổ sung tướng lĩnh tài năng cho quân đội như tướng Nguyễn Bình, Nam Long… bố trí cán bộ lãnh đạo tầm cỡ như Lê Duẩn, Tôn Đức Thắng…

Nhưng chi viện quan trọng nhất của Trung ương là thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ đạo, vận dụng sách lược, khai thác mâu thuẫn địch với một nghệ thuật tuyệt vời, giành thắng lợi trên mặt trận ngoại giao: ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946.

Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 đến với Nam Bộ lúc đó như một liều thuốc hồi sinh. Sau đó là Tạm ước 14/9/1946 mà Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Bộ trưởng Bộ Pháp quốc Hải ngoại Marius Moutet khi Hội nghị Fontainebleau lâm vào bế tắc. Dựa vào pháp lý Hiệp định Sơ bộ 6/3 và Tạm ước 14/9, Nam Bộ vượt qua tình thế hiểm nghèo, tạo thế và lực mới trên khắp chiến trường, giành lại thế chủ động.

 

                       

      

 

 

 

 

 

       Chi đội Trần Phú – bộ đội hải ngoại từ Thái Lan về nước

                              tham gia chiến đấu, 19/5/1947.

Một điểm đặc biệt của Nam Bộ kháng chiến là phong trào đô thị: phong trào Báo chí Thống Nhất, phong trào sáng tác văn học đề cao tinh thần yêu nước diễn ra tại Sài Gòn ngay trong thời chiến tranh, một phong trào quy tụ không chỉ nhà báo, nhà văn, mà hầu hết giới nhân sĩ, trí thức ưu tú của Sài Gòn, của Nam Bộ… như: nhà báo Triệu Công Minh, nữ sĩ Ái Lan, Vũ Tùng, Tam Ích, Thiên Giang, Nam Đình, Nam Quốc Cang, Trần Tấn Quốc, Lê Tràng Kiều, Tô Nguyệt Đình…, các nhà văn như Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà, Dương Tử Giang…

Bên cạnh phong trào Báo chí Thống Nhất, giới trí thức cùng nhân dân Sài Gòn còn thông qua Phân bộ Đảng Xã hội Pháp (SFIO) ở Sài Gòn, nhà văn kỳ cựu Thiếu Sơn, chủ bút báo Justice Palovani, Phó Giám đốc Ngân hàng Pháp - Hoa Michel Văn Vỹ, thuyết phục cả nhiều sĩ quan Pháp như đại tá quân y Haslé, đại úy Rouan (người chạm súng với quân dân Nam Bộ trong trận Cái Răng, Cần Thơ, cuối năm 1945)… cùng đi với nhân dân Nam Bộ trong nhiều cuộc mít tinh, diễn thuyết, biểu tình… ủng hộ chính phủ Cụ Hồ mà địch không thể có cớ đàn áp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khen: “Nam Bộ đã biết cách chuyển pháp lý Hiệp định Sơ bộ 6/3, Tạm ước 14/9 thành sức mạnh của mình”.

Phong trào đấu tranh chính trị - vũ trang của Nam Bộ trong năm 1946 đã bóp chết âm mưu của xâm lược Pháp muốn xây dựng một  “Nam Kỳ quốc”, tách Nam Bộ ra khỏi nước Việt Nam, thủ đoạn chia rẽ đó của thực dân Pháp đã dấy lên một phong trào thống nhất quốc gia dân tộc rất mãnh liệt, đó là thành quả nổi bật và cũng là mũi tiến công chính trị rất sắc bén của Nam Bộ vào quân xâm lược. Nói Nam Bộ kháng chiến góp phần vào Toàn quốc kháng chiến thì không thể không nhấn mạnh nét đặc thù chính trị đó.

Tóm lại, quân dân Nam Bộ bằng cuộc kháng chiến của mình, có sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, có sự chi viện của cả nước… đã cùng cả nước góp phần nâng cao uy thế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Fontainebleau ở Pháp và trên thế giới.

Đặc biệt, Nam Bộ khẳng định lòng trung thành và niềm tin tuyệt đối của Nam Bộ đối với Tổ quốc Việt Nam, với “chính phủ và cụ Hồ”. Và khi Toàn quốc kháng chiến nổ ra, lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng thôi thúc Nam Bộ gắn bó với cả nước, đi suốt chặng đường kháng chiến trường kỳ gian khổ.

Nam Bộ đã “đi trước” trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp vào giữa thế kỷ XX, cũng như đã “đi trước” cách đây gần 1 thế kỷ, khi pháo hạm xâm lược của Đô đốc Rigault de Genouilly bắn phá thành Gia Định năm 1859. Nam Bộ cầm chân Pháp trong thời gian 15 tháng vô cùng quý giá để cả nước chuẩn bị cho Toàn quốc kháng chiến.

Nam Bộ vừa có vinh dự là Thành đồng Tổ quốc, vừa là nơi hun đúc các thế hệ đến sau trong cuộc chiến lâu dài, suốt 30 năm kháng chiến chống xâm lược Pháp rồi chống xâm lược Mỹ, đi đến thắng lợi 30/4/1975.

 

                                 H.Đ.

   Chủ nhiệm CLBTTKC Khối Nhà báo cao tuổi.       

 

logo logo