Danh mục

Nguyễn Trọng Xuất - Ngày: 31/01/2020

VỀ BÀI CA “GIẢI PHÓNG MIỀN NAM”

                                                                                     Mai Văn Bộ 1

Viết bài này, lẽ ra tôi phải dành câu chuyện sau đây cho phần cuối cùng. Nhưng xin các bạn thông cảm và cho phép người cầm bút vi phạm thông lệ đó, tức là cho tôi làm cái việc ngược đời là đưa ra sự đánh giá và kết luận, trước khi trình bày mọi lẽ.

Thực ra, sự đánh giá và kết luận đó không phải là của tôi mà là của anh Trần Bạch Đằng. Trên báo Sài Gòn Giải phóng ngày 22/12/1985, nhân kỷ niệm 25 năm ngày ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, anh Trần Bạch Đằng có kể lần đầu tiên được giới thiệu chính thức tại Đại hội lần thứ nhất của Mặt trận, bài Giải phóng miền Namđã được nhiệt liệt hoan nghênh và từ đó “khắp các vùng giải phóng miền Nam, bài hát được phổ biến nhanh và rộng” và “bài Giải phóng miền Namcùng với Mặt trận Dân tộc Giải phóng được thưởng thức từ bình độ chiêm ngưỡng”.

Cũng theo lời anh Trần Bạch Đằng: “Trong vòng 15 năm, mỗi khi bài hát cất lên, người nghe cảm giác cái gì rờn rợn chạy dọc theo xương sống. Nó là tiếng gọi cứu nước thiết tha, trầm hùng và hàng triệu con người trong cả nước theo nhịp diệu của nó, lao tới trong cuộc đọ sức dữ dội nhất trong lịch sử chiến tranh giữ và giành nước của dân tộc ta…”.

Bởi lẽ đó bài Giải phóng miền Nam khiến chúng ta liên tưởng tới đoàn nghĩa quân Pháp từ Marseille kéo lên Paris, vừa đi vừa hát (do đó bài hát của họ mang tên La Marseillaire) trong cuộc nổi dậy ngày 10/8/1892. Nó đã làm chúng ta nhớ lại đã có lần nhìn thấy trên màn ảnh: bộ đội, lính thủy và công nhân Nga vừa hát vang bài Quốc tế ca, vừa ồ ạt vượt qua cửa sắt tràn vào Cung điện mùa Đông ngày 7/11/1917.

Cũng như La Marseillaire Quốc tế ca, Giải phóng miền Namlà một bài hát của quần chúng khởi nghĩa và tiến công quân thù với sức mạnh của nhiệt tình cách mạng sục sôi và niềm tin sắt đá ở thắng lợi cuối cùng.

Với tính chất đó, bài Giải phóng miền Namhiển nhiên là một vũ khí tinh thần không thể thiếu của phong trào quần chúng yêu nước và cách mạng miền Nam

Tại sao bàiGiải phóng miền Namchứa đựng một tiềm lực động viên và cổ vũ khác thường như thế? Thiết tưởng không có điều gì bí ẩn cả. Một tác phẩm nghệ thuật thuộc bất kỳ loại hình nào, vừa ra đời mà đã chinh phục được trái tim và khối óc của hàng triệu con người, thì tác phẩm đó không thể do một sự ngẫu nhiên mà có được.

Với tư cách là người đã chứng kiến sự nảy nở, quá trình tự khẳng định và không ngừng phát triển của một tài năng kiệt xuất, tôi có thể bảo đảm rằng nếu không có hai cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (27/9/1940) và Nam Kỳ (23/11/1940), nhất là cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ mà sự đàn áp đẫm máu của thực dân Pháp đã nhiều lần làm cho anh Lưu Hữu Phước phải khóc vì uất hận, thì không thể có bài Tiếng gọi thanh niên, và tiền thân của nó là bài hát kêu gọi khởi nghĩa viết vào tháng 4/1941, bắt đầu bằng hai câu:

Nào anh em ơi! Tiếng lên đến ngày giải phóng!

Đồng lòng cùng nhau ta đi, sá gì thân sống… 

Cũng như nếu không có cao trào Đồng khởi dấy lên rồi đã nhanh chóng lan ra như vũ bão và chỉ trong mấy tháng đã giải phóng nhiều vùng nông thôn rộng lớn của miền Nam, thì cũng đã không thể có bài Giải phóng miền Namvới lời kêu gọi cứu nước: Vùng lên! Nhân dân miền Nam anh hùng!

Cũng có thể nói, trước khi bài Giải phóng miền Namhình thành và đạt tới độ hoàn chỉnh nhờ tài năng của tác giả, nó đã dấy lên từ quần chúng quật khởi và đã bàng bạc trong không gian khắp miền Nam. Nó là tiếng thét căm hờn, tiếng gọi đứng lên và tiếng hò reo thắng lợi của hàng triệu con người khổ đau, tang tóc dưới chế độ Mỹ - Diệm; được Nghị quyết 15 nổi tiếng của Trung ương Đảng xốc dậy thành cao trào cách mạng mà không thế lực nào, vũ khí nào hay đạo luật giết người nào kể cả luật 10/59, ngăn chặn nổi.

Khi Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng và tôi nhận nhiệm vụ sáng tác một bài hát cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng, chúng tôi ý thức được ngay rằng điều trước tiên là chúng tôi phải hướng lòng, hướng mắt về miền Nam ruột thịt để lắng nghe và nắm bắt cho kỳ được những tiếng hát diệu kỳ của khí phách và của tâm hồn đồng bào trong cơn lốc Đồng khởi. Ảnh dưới: Nhân dân Củ Chi Đồng khởi, 1960.

 

 

 

 

 

 

Từ Hà Nội, chúng tôi cảm thấy quê hương tuy xa xôi mà vô cùng gần gũi. Mỗi tin thắng lợi ở quê nhà đều có sức động viên và cổ vũ mãnh liệt, khiến chúng tôi say sưa nghiên cứu các bản tin, bàn bạc và không ngừng trao đổi về nét nhạc cũng như nội dung bài hát để làm sao thể hiện được tinh thần chiến đấu và những hy sinh to lớn của đồng bào.

Xung quanh chúng tôi, Hà Nội reo vui. Thật là một cảnh tượng đặc biệt mới mẻ, một không khí sôi động khác thường. Sáng cũng như chiều, đồng bào thủ đô tấp nập đi chật đường phố, tụ tập nghe tin tức miền Nam phát ra từ các loa phóng thanh, hoặc chen nhau đọc những bản tin ở bờ hồ Hoàn Kiếm, tại các công viên hoặc trước trụ sở Thông tấn xã Việt Nam.

Thật vậy, Hà Nội trải qua những ngày sôi nổi chưa từng thấy kể từ khi Bác Hồ và Chính phủ trở lại với thủ đô sau chiến thắng Điện Biên Phủ và Hội nghị Genève về Đông Dương.

Sẽ là một thiếu xót lớn nếu chúng tôi không đi gặp cán bộ miền Nam tập kết. Gặp nhau là ôm nhau không cầm được nước mắt. Ai cũng hăm hở và sẵn sàng vác ba lô lên đường trở lại miền Nam tham gia chiến đấu. Anh S ở báo ThốngNhất phấn khởi nói:

- Có tin chắc chắn tuy chưa được phép phổ biến là cuối năm nay Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam sẽ ra đời và các lực lượng vũ trang sẽ hợp nhất thành Quân Giải phóng.

Còn nhà thơ Bảo Định Giang vừa gặp đã hỏi tôi:

- Có phải các anh đang soạn một bài hát cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng không?

Tôi yêu cầu anh giữ bí mật. Sau mấy giây trầm ngâm, anh nói thong thả và rành mạch:

- Đồng ý là phải giữ bí mật, song, để soạn một bài hát cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng, các tác giả của Tiếng gọi thanh niênLên đàng nên nhớ rằng nếu cả nước có chung bài Tiến quân ca, thì Mặt trận Dân tộc Giải phóng lúc này hơn lúc nào hết phải có bài Tiến quân ca của riêng mình để cổ vũ chiến sĩ và đồng bào miền Nam xông lên đánh Mỹ và thắng Mỹ.

Nhiệm vụ quá nặng nề mà chúng tôi thì chỉ có hơn hai tuần lễ để viết xong bài hát. Ngày nào, Phước, Tiểng và tôi cũng gặp nhau tại nhà tôi, có khi đến nửa đêm để ướm thử vài nốt nhạc, xác định thêm nội dung một câu hát, với tất cả những gì đã tích lũy được qua những tin tức dồn dập từ miền Nam, qua niềm phấn khởi và tin tưởng của đồng bào thủ đô, và những lời phát biểu tâm huyết của cán bộ miền Nam tập kết.

Chính trong lúc này, chúng tôi lại nhớ lời tuyên bố bất hủ của Bác Hồ giữa thủ đô Paris với báo chí ngày 12/7/1946:

- Nam Bộ là lãnh thổ của Việt Nam, là thịt của thịt chúng tôi, là máu của máu chúng tôi.

Chúng tôi càng suy nghĩ miên man về nội dung bài hát. Cuối cùng những nét phác thảo tản mạn, trong đó có đặc biệt quan tâm đến những đặc trưng của miền Nam như ngôn ngữ, khí phách, tinh thần trọng đạo nghĩa, được cô lại dần thành những dòng sinh động và hùng tráng:

Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước!

Diệt đế quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước!

Ôi! Xương tan máu rơi, lòng hận thù ngút trời,

Sông núi bao nhiêu năm cắt rời!

Đây Cửu Long hùng tráng,

Đây Trường Sơn vinh quang.

Thúc giục đoàn ta xung phong đi giết thù

Vai sánh vai chung một bóng cờ.

Đã đến lúc phải chuyển sang điệp khúc, tức phải xác định rõ ràng chủ đề, linh hồn của bài hát. Chúng tôi tìm mãi, tìm mãi.

Vào một buổi tối, chúng tôi bỗng nhiên có ấn tượng sâu sắc như nghe vọng lại từ miền Nam lời kêu gọi khẩn cấp:

Vùng lên! Nhân dân miền Nam anh hùng!

Vùng lên! Xông pha vượt qua bão bùng!

Và hai câu nhạc của Phước khác nào hai hồi kèn xung trận, lôi cuốn người người lớp lớp vừa tiến lên phía trước, vừa thét vang những lời thề hy sinh cứu nước, lòng tràn đầy niềm tin ở ngày mai thắng lợi:

Thề cứu lấy nước nhà!

Thề hy sinh đến cùng!

Cầm gươm, ôm súng xông tới.

Vận nước đã đến rồi,

Bình minh chiếu khắp nơi,

Nguyền xây non nước sáng tươi muôn đời.

Thú thật là viết xong bài hát, chúng tôi cảm thấy mình như đã kiệt sức. Phước xúc động nói:

- Nếu không có cao trào Đồng khởi dội lại từ miền Nam xói vào tim óc chúng ta, ắt chúng ta không làm sao viết nổi bài hát.

*Xin kể câu chuyện về tên tác giả bài Giải phóng miền Nam.

 

Nhóm Hoàng Mai Lưu: Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ.

Theo yêu cầu, chúng tôi không được dùng bút danh Hoàng Mai Lưu của nhóm, chỉ có thể sử dụng ba chữ cái HML, nên đã chuyển thành Huỳnh Minh Liên, một cái tên có vẻ miền Nam. Nhưng Phước lại nói:

- Chưa miền Nam lắm đâu! Chữ Liên phải có “g”, phải viết L-i-ê-n-g thì mới đặc biệt Nam Bộ! Sài Gòn chẳng có ông Đặng Thúc Liêng đó sao?

Tiểng và tôi đành phải chấp nhận chữ Liêng - có g”- của Phước. Ngờ đâu Phước lại nhanh chóng trở thành nạn nhân của chính mình. Miền Bắc không có tên Liêng mà chỉ có Liên. Có lẽ ngờ là tác giả viết sai tên mình, hoặc vì chữ L hoa của Phước có cái bụng quá to, giống như chữ S, nên người chịu trách nhiệm ấn hành bài hát đã tự ý thay thế chữ L bằng chữ S và từ đó, Huỳnh Minh Liêng trở thành Huỳnh Minh Siêng.

Do cái sáng kiến quá tinh tế của mình mà Phước nghiễm nhiên trở thành “anh Tư Siêng” trong vùng giải phóng miền Nam. Lần đầu tiên gặp Phước, tôi đùa:

- Chào anh Tư Siêng.

Phước trợn mắt chống chế:

- Siêng là Siêng năng, cũng tốt chứ sao.

Chúng tôi được một trận cười. Đúng quá! Liêng thì hoàn toàn vô nghĩa, Siêng mới có nghĩa!

Một vấn đề nữa khi bài hát viết xong là “ai sẽ duyệt và duyệt ở đâu?”. Chúng tôi được trả lời: “Cứ đến nhà anh Phạm Hùng, 72 Phan Đình Phùng, khắc rõ”.

Chúng tôi đến sau bữa tối, chỉ có anh Phạm Hùng và ba chúng tôi. Phải chi chúng tôi có được Quốc Hương hôm đó, vì cả ba đều hát rất tồi, đành vậy thôi!

Sau một tuần trà, anh Phạm Hùng ngồi nghe chúng tôi hát theo tiếng đàn ghi ta của Phước. Có lẽ đến lần thứ tư hay năm gì đó, chúng tôi mới diễn đạt được nhịp điệu trầm hùng của những câu: “Đây Cửu Long hùng tráng, Đây Trường Sơn vinh quang” và khí thế hiên ngang, bất khuất, đạp lên đầu thù của điệp khúc. Anh Phạm Hùng xô ghế đứng lên nói to:

- Được rồi! Hay Lắm! Hoan nghênh và cảm ơn các đồng chí!

Chúng tôi nhìn nhau, xúc động muốn trào nước mắt. Anh Phạm Hùng tiễn chúng tôi ra tận cổng, giữa lòng đường, dưới ánh đèn lờ mờ, lần đầu tiên sau mấy tuần lễ, chúng tôi chia tay nhau mà không phải hẹn ngày giờ gặp lại.

Như một con chim sổ lồng, bài hát hối hả bay về quê hương miền Nam, bay khắp vùng giải phóng miền Đông và vùng đồng bằng Nam Bộ, đến từng cơ quan, từng đơn vị bộ đội, từng đoàn thể quần chúng, đến với người lớn tuổi cũng như với thanh thiếu niên. Ai cũng thích nó, ai cũng hát nó. Vì hát nó là hát lên tình cảm, ước mơ và hoài bão lớn nhất và sâu sắc nhất của lòng mình.

 

M.V.B.

 

 

Mai Văn Bộ - một trí thức Nam Bộ,là một trong ba người của bộ ba “Huỳnh – Mai – Lưu” nổi tiếng, nguyên Đại sứ CHXHCNVN tại Pháp, Vương quốc Bỉ, Ý, Hà Lan, Luxembourg.

logo logo