thư viện

- Ngày: 13/03/2018

CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MẬU THÂN 1968

                                                                                       Nguyễn Trọng Xuất tổng hợp

1. Bối cảnh tình hình

Bối cảnh tình hình cuộc chiến tranh của Mỹ ở Nam Việt Nam trong 2 mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, có mấy đặc điểm sau:

- Mỹ trực tiếp đưa quân viễn chinh Mỹ sang Nam Việt Nam hòng cứu vãn chế độ tay sai Sài Gòn, nhưng “cuộc chiến tranh cục bộ” ác liệt bằng chính thực binh Mỹ diễn ra trong 3 năm qua cũng bắt đầu thất bại.

- Trong chính giới Mỹ đã xuất hiện mâu thuẫn giữa nhóm chủ chiến, đòi mở rộng chiến tranh và nhóm chủ trương giải quyết cuộc chiến bằng biện pháp thỏa hiệp. Trong nhân dân Mỹ, do cuộc chiến đã khiến nhiều người Mỹ chết và bị thương, phong trào phản chiến lên cao- Đế quốc Mỹ lâm vào tình thế bế tắc về chiến lược ở Việt Nam, cuộc chiến tranh Việt Nam có nguy cơ ảnh hưởng đến chiến lược toàn cầu của Mỹ. Đảng Dân chủ cẩm quyền không được dân Mỹ tín nhiệm, có thể thất cử trong cuộc tổng tuyển cử bầu Tổng thống tháng 11 năm 1968.

Tuy vậy, tướng Westmoreland, Tư lệnh quân Mỹ ở Nam Việt Nam vẫn báo cáo về Washington là…“Đã đẩy lui được Việt Cộng”… “Đã có ánh sáng ở cuối đường hầm”…và xin tăng thêm 80.000 quân…

Từ tháng 4-1967, nhận rõ tình thế và thời cơ chiến lược đã xuất hiện, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã bàn chủ trương “giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn”. Theo sáng kiến của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất BCHTW Đảng, ta cần thay đổi cách đánh, đánh đòn quyết định thì mới thay đổi được cục diện chiến lược trên chiến trường. Bộ Chính trị thảo luận và quyết định: trong dịp Tết Mậu Thân 1968 sẽ tổ chức “một đòn tiến công chiến lược đánh vào các thành phố, thị xã trên toàn miền Nam, kết hợp với nổi dậy của quần chúng các đô thị và nông thôn, mở đầu cho tổng công kích, tổng khởi nghĩa; lấy chiến trường chính là Sài Gòn - Gia Định, Đà Nẵng, Huế... và các thành phố lớn...” (theo LSNBKC, tập II, trang 571 - 575)

2.Bước chuẩn bị cho Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy TẾT Mậu Thân 1968.

Từ năm 1967, Trung ương cục miền Nam theo kế hoạch chung, đã tiến hành các bước chuẩn bị cho cuộc Tổng tấn công và nổi dậy ở các đô thị miền Nam mà trọng điểm là Sài Gòn-Gia Định, “thủ đô” của chính quyền Sài Gòn. Khu trọng điểm Sài Gòn - Gia Định được hình thành, có 6 Phân khu:

Phân khu 1: bắc và tây bắc Sài Gòn; Phân khu 2: tây và tây nam Sài Gòn; Phân khu 3: nam Sài Gòn; Phân khu 4: tây Sài Gòn; Phân khu 5: đông bắc Sài Gòn; Phân khu 6: nội thành, gồm các đơn vị Biệt động thành F.100, Đội 90, Đặc công 11…, các đội vũ trang của Thành Đoàn, Hoa Vận, Phụ Vận, Công vận, Tuyên Huấn…

 Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư TWC miền Nam phụ trách chung, Thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch do Thượng tướng Trần Văn Trà làm tư lệnh, chỉ định 2  Bộ tư lệnh Tiền phương bắc và Bộ Tư lệnh Tiền phương nam.

3.Diễn tiến Chiến dịch:

+ Nghi binh.

Khoảng từ cuối tháng 10 đến cuối tháng 11-1967, các hoạt động “tạo thế” ở các địa phương chỉ diễn ra với mức vừa và nhỏ, các chiến dịch ở hướng rừng núi như Lộc Ninh - Đường 13 (ngày 27-10 đến 5-12-1967), Đắc Tô (ngày 3-11 đến 22-11-1967) lại nổi cộm lên, làm cho Mỹ - Sài Gòn mơ hồ về quyết tâm chiến lược mới của phía cách mạng.

 Quân Giải phóng lại tạo “cái bẫy” mới: ngày 20-1-1968, bất ngờ tiến công tập đoàn cứ điểm Khe Sanh (thuộc tỉnh Quảng Trị) và tuyến phòng thủ trên Đường 9. Khe Sanh nằm không xa đường Hồ Chí Minh nên có tầm quan trọng chiến lược đối với cả quân Giải phóng lẫn quân Mỹ. Tổng thống Mỹ Johnson lo sợ Khe Sanh có thể trở thành một “Điện Biên Phủ thứ hai” nên ra lệnh cho Hội đồng các tham mưu trưởng liên quân Mỹ và Bộ Tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam phải cam kết bảo vệ Khe Sanh bằng mọi giá. Bộ đội Việt Nam đã thu hút và giam chân tại đây nhiều lực lượng cơ động tinh nhuệ của Mỹ.

+ Bước triển khai tiến về Sài Gòn và tập dượt chuẩn bị nổi dậy.

Trong tình thế quân Mỹ - Sài Gòn còn hơn 1.400.000 (485.600 Mỹ + khoảng 900.000 quân Sài Gòn), nhưng với tinh thần xốc tới, niềm tin thắng lợi của toàn thể cán bộ, chiến sĩ và quần chúng cách mạng, trở thành khí thế “Tết Quang Trung” xuống đường mạnh mẽ, náo nức chưa từng thấy trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước. Trên khắp nẻo đường chiến khu đổ về đô thị, ngày đêm không ngớt những đoàn dân công, bộ đội tiến ra phía trước. Hướng về Sài Gòn, trên hành lang dài hàng trăm cây số, từ vùng biên giới Mỏ Vẹt xuống ven đô, đêm đêm có hàng trăm xe bò đầy súng, đạn, gạo lăn bánh, 200 tấn vũ khí đã được vận chuyển từ biên giới Kiến Tường - Long An, lách qua nhiều vùng đối phương kiểm soát xuống tận vành đai tây nam Sài Gòn.

 Trước ngày nổ súng các đoàn thể đã có những cuộc tập hợp quần chúng công khai, tập dươt cho hoạt động tấn công, nổi dậy: Sinh viên, học sinh Sài Gòn tổ chức đêm văn nghệ “Mừng Tết Quang Trung” tại trường Quốc gia Hành chánh Sài Gòn ngày 26/1/1968, quy tụ hơn 12.000 thanh niên. Ban Hoa vận chuẩn bị lực lượng vũ trang nhằm sẽ đánh vào 9 mục tiêu thuộc quận 5. Ban Phụ vận, giới giáo chức và phụ huynh tổ chức “Cây Mùa Xuân” ngày 22/1/1968, quy tụ hơn 7.000 người…

+ CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY

Đêm giao thừa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc thơ chúc Xuân, cũng chính là “lệnh Tổng tiến công”:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,

Thắng trận tin vui khắp nước nhà.

           Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,

           Tiến lên, toàn thắng ắt về ta.

Theo kế hoạch giờ nổ súng (giờ G) trên toàn miền Nam là 2 giờ đêm giao thừa Tết Mậu Thân (đêm 30 rạng 31/1/1968) – 2 giờ Hà Nội, là 3 giờ Sài Gòn.

Nhưng đúng vào năm này miền Bắc thay đổi lịch (trong đó tháng chạp âm lịch  chỉ có 29 ngày), đón Tết Mậu Thân sớm một ngày so với lịch ở miền Nam. Do đó, có sự chuệch choạc trong việc chấp hành ngày N, giờ G.

 Đêm mồng Một rạng mồng Hai Tết (theo lịch miền Nam, tức đêm 30 rạng 31-1-1968, Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn bắt đầu nổ súng cùng một số địa phương khác

 Dười đây chúng tôi đi sâu một số trận ở khu trung tâm Sài Gòn-Gia Định và phụ cận:

  + Hoạt động của lực lượng Biệt động.

Trận đánh Bộ Tổng Tham mưu quân Sài Gòn và sân bay Tân Sơn Nhất : Cụm biệt động 6 - 9 (25 tay súng)  gồm Đội 6 (do Ba Tâm, Năm Đức làm Đội trưởng và chính trị viên), và  Đội 9 (Đỗ Tấn Phong trực tiếp chỉ huy) cơ động trên 2 xe hơi, hình thành hai mũi tiến công cổng số 2 hướng nam Bộ Tổng tham mưu và cổng Phi Long, hướng nam sân bay Tân Sơn Nhất. Cả hai mũi đã chiến đấu quyết liệt, gây cho địch nhiều thiệt hại. Trận chiến kéo dài đến 14 giờ ngày 1/2/1968, các chiến sĩ mới rút về vị trí quy định. Trong lúc đó, Tiểu đoàn 2 Phân khu 1 và 1 đại đội đặc công tiến công cổng số 4 Bộ Tổng tham mưu (hướng bắc). Trận chiến diễn ra ác liệt nhưng quân Giải phóng không vào được mục tiêu.

Trận đánhDinh Độc Lập: Đội 5 gồm 17 tay súng, di chuyển bằng 3 ôtô nhỏ và 1 Honda, tổ chức tiến công từ phía cổng đường Nguyễn Du… Trong 30 phút đầu Đội 5 diệt được 3 xe Jeep, khoảng 20 tên…Cuộc chiến diễn ra suốt ngày mồng 2 Tết ở khu vực đường Thủ Khoa Huân - Gia Long(nay là Lý Tự Trọng).

Trận đánhĐài Phát thanh Sài Gòn: Đội 4 biệt động gồm 15 cán bộ, chiến sĩ (có 1 nữ) dùng thủ pháo đánh tung cánh cổng, diệt lính gác; chỉ sau 5 phút chiến đấu mũi 1 làm chủ khu vực đài phát sóng. Mũi thứ hai gồm 3 người, tiếp cận và kềm chế, diệt trung đội an ninh quân Sài Gòn đóng trên lầu một. Chiến sĩ Đội 4 chiếm giữ mục tiêu đến 6 giờ 30 sáng. Ở thế bị bao vây, các đồng chí chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, quyết định dùng khối nổ 20 ký phá hủy phần chính của Đài và hy sinh. Đội 4 làm chủ Đài Phát thanh trong 4 giờ 31 phút, tiêu hao 1 đại đội lính thủy quân lục chiến, 1 trung đội bảo an, bắn cháy 1 xe bọc thép và 1 xe GMC, 10 cán bộ, chiến sĩ hy sinh. Cánh Tuyên huấn Phân khu 6 gồm hơn 30 cán bộ, chiến sĩ tuyên truyền, bị địch chia cắt không tiếp sức được cho lực lượng biệt động bên trong Đài.

Trận đánh Bộ Tư lệnh Hải quân Sài Gòn: Đội 3 biệt động gồm 16 cán bộ, chiến sĩ đánh trực diện Bộ Tư lệnh Hải quân…Đội trụ được tại trọng điểm này đến 6 giờ sáng.

Trận tiến công Tòa đại sứ Mỹ

 

 

 

 

 

 

 

Biệt động Sài Gòn bắn B.40 vào Sứ quán Mỹ trong đợt 1 Mậu Thân.

 Đội 11 gồm 16 cán bộ, chiến sĩ, di chuyển bằng hai xe. Mở đầu xung kích nổ súng diệt lính Mỹ gác ở cổng chính đường Thống Nhất (nay là đường Lê Duẩn), đồng thời dùng bộc phá đánh thủng một mảng lớn tường lô cốt góc (Mạc Đĩnh Chi - Thống Nhất), tạo cửa mở đột nhập. Bị tiến công bất ngờ, quân Mỹ rối loạn, chống trả yếu. Tính đến 8 giờ sáng, Đội 11 đã chiếm và giữ mục tiêu hơn 6 giờ. Mạnh là chiến sĩ thứ 15 hy sinh sau cùng khi bắn quả đạn B.40, đẩy lùi một đợt phản kích của quân Mỹ. Phía Mỹ đưa tin: 5 binh sĩ Mỹ chết tại trận, 22 trọng thương chết ở bệnh viện; số bị thương lên tới 124 người.

Giữa vòng vây đối phương đông gấp vài chục lần gồm cả bộ binh, máy bay, tăng - thiết giáp..., 88 cán bộ, chiến sĩ đặc công biệt động Sài Gòn với vũ khí nhẹ cầm tay đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, 74 người hy sinh hoặc sa vào tay giặc trong tư thế “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

+ Hoạt động của lực lượng vũ trang tập trung

Theo hiệp đồng với các mũi biệt động nội thành, các tiểu đoàn mũi nhọn, các trung đoàn thọc sâu đều xuất kích vào giờ quy định:

Trên hướng Phân khu 1: Tiểu đoàn 2 Gò Môn cùng một bộ phận Tiểu đoàn 4 đặc công (đều thuộc Trung đoàn Quyết Thắng) phối hợp Đội 6, tiến công vào cổng phía bắc Bộ Tổng tham mưu. Tiểu đoàn 1 Quyết Thắng đánh chiếm trại pháo binh Cổ Loa, trại thiết giáp Phù Đổng.

Một bộ phận của Sư đoàn 9 chủ lực Miền tiến công Trung tâm huấn luyện Quang Trung và vùng phụ cận.

 

 

 

 

 

 

 

  Bộ đội Sư đoàn 9 vượt tường tiến công Trung tâm huấn luyện Quang Trung.

Trên hướng Phân khu 2:

Tiểu đoàn 16 đánh chiếm được 2 lô cốt án ngữ phía tây sân bay Tân Sơn Nhất. Tiểu đoàn 267 trụ ở khu vực cầu Tham Lương. Tiểu đoàn 6 Bình Tân thọc vào quận 5, chiếm trường đua Phú Thọ, phát triển theo đường Trần Quốc Toản (nay là đường 3 tháng 2), Bà Hạt, Nguyễn Lâm, Nguyễn Kim, Nguyễn Tri Phương…

 Trên hướng Phân khu 3:

 Tiểu đoàn 2 Long An vào đến Lò Gốm, Phú Định phát đến Chợ Thiếc. Tiểu đoàn 1 Long An + Tiểu đoàn Phú Lợi 2 thọc vào đến quận 8. Tiểu đoàn 5 Nhà Bè đánh địch ở Tân Quy. Bộ Chỉ huy Tiền phương Nam đi cùng Bộ Chỉ huy Phân khu 3 tiến đến Quận 6 trụ ở Phú Định. Tại khu vực Nguyễn Kim - Tân Phước, 12 chiến sĩ an ninh chiến đấu vô cùng dũng cảm giữa vòng vây quân đối phương đến viên đạn cuối cùng, diệt nhiều tên và 10 xe, có cả xe thiết giáp.

Hướng Phân khu 4 và Phân khu 5: Tiểu đoàn 3 Dĩ An đánh chiếm chi khu cảnh sát Hàng Sanh(*), sau đó liên tục đánh quân Sài Gòn phản kích, nhưng không đến được mục tiêu Đài Phát thanh và Tòa Đại sứ Mỹ như kế hoạch.

-Tiểu đoàn 4 Thủ Đức tấn công cầu Phan Thanh Giản (nay là cầu Điện Biên Phủ); hỗ trợ lực lượng du kích ở khu vực Bình Quới Tây… Đoàn 10 Rừng Sác đánh chìm 1 tàu quân sự trọng tải 10.000 tấn trên sông Lòng Tàu, bắn rơi 3 máy bay.

 

 

 

 

 

 

 

      Cầu Phan Thanh Giản (nay là cầu Điện Biên Phủ) bị đánh sập trong MT, 1968.

 

(*) Sanh: loại cây thân gỗ mọc theo hàng dài bờ sông, bờ ruộng – Không phải Xanh.

Lực lượng tại chỗ nội thành tích cực phối hợp, phục vụ lực lượng ngoài vào. Hàng trăm thanh niên đeo băng đỏ trên cánh tay, hăng hái dẫn đường cho bộ đội tiến công địch trong thành phố. Lực lượng vũ trang quận 7 chiếm bến Nguyễn Duy và huy động ghe xuồng của đồng bào để đưa bộ đội qua Kênh Đôi, tiến sâu vào thành phố. Có những nữ tự vệ đánh giỏi như chị Tám Gờ một mình diệt 5 ác ôn ở phường Rạch Cát, chị Hiếu công nhân hãng rượu Bình Tây chỉ có một tay, đã dùng súng ngắn diệt 2 ác ôn ở cầu số 3 phường Bình Đông...

+ Trong Đợt 2 Mậu Thân – từ 4/5/1968 – mặc dù yếu tố bất ngờ không còn nhưng lực lượng chủ lực Quân Giải phóng đã dũng mãnh ra quân, tiến được vào nhiều khu vực trung tâm thành phố, diệt được nhiều sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch*, cao hơn Đợt 1.

Sức tiến công liên tục của quân Giải phóng đã làm Mỹ càng thấy không thể thắng trong chiến tranh bằng thực binh Mỹ, phải thay đổi chiến lược, mặc dù đã cố gắng tăng thêm quân Mỹ lên 530.000 tên sau đợt 1 Mậu Thân.

Ngày 31/3/1968 (sau Đợt 1)Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đọc bài tuyên bố đề nghị “đàm phán” với đối phương để tìm phương cách giải quyết chiến tranh; Chấm dứt ném bom và bắn phá miền Bắc không điều kiện; từ bỏ ý định ra ứng cử Tổng thống thêm một nhiệm kỳ.

 

 

 

 

 

                 Nixon thay Johnson.

Ngày 13/5/1968 (sau Đợt 2), tại Paris (thủ đô nước Cộng hòa Pháp) cuộc hội đàm giữa chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chính phủ Mỹ họp phiên đầu tiên, mở đầu cho quá trình ta“vừa đánh vừa đàm”, kết hợp ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao.

4. Nhận xét và bài học

 Chiến dịch Mậu Thân 1968, tuy kế hoạch phối hợp và chỉ đạo chỉ huy còn có những thiếu sót, khiếm khuyết chưa đạt mức yêu cầu đề ra, nhưng đã làm được điều kỳ diệu: Quân Giải phóng đã đánh đúng vào cơ quan đầu não của địch ở Sài Gòn, Huế và nhiều thành phố khác; vây hãm địch nhiều ngày ở Khe Sanh; đồng thời đánh địch ở khắp vùng nông thôn rộng lớn mà chúng còn tạm chiếm; đã giáng một đòn bất ngờ rất lớn làm cho quân Mỹ, quân Sài Gòn hoang mang, dao động mạnh, làm lung lay ý chí xâm lược của những người cầm đầu nước Mỹ, làm phá sản “chiến lược Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, buộc chúng phải thừa nhận không thể dùng lực lượng viễn chinh Mỹ để thắng trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

Dù trong điều kiện rất khó khăn, các chiến sĩ Mậu Thân đã bước vào chiến dịch với lòng tin tuyệt đối, lòng hăng say và dũng khí tuyệt vời, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do, quyết chiến và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, sẵn sàng dấn thân vào chỗ hiểm nguy, hy sinh đến người cuối cùng, đó là “Khí phách Việt Nam”, nét son chói lọi trong lịch sử chống Mỹ, cứu nước của quân dân Việt Nam.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

          Tiểu đoàn 6 Bình Tân trên đường vào chiến dịch Mậu Thân.

Sự “nổi dậy” của quần chúng thể hiện bằng nhiều hoạt động tích cực: nhiều bộ phận quần chúng thực sự đứng lên giành quyền làm chủ ở xóm lao động, dẫn đường, tiếp tế quân Giải phóng, tải vũ khí, tải thương, chăm sóc thương binh, vận động binh sĩ Sài Gòn đồng tình với cách mạng hoặc bỏ ngũ..., một bộ phận thanh niên trực tiếp tham gia hàng ngũ quân Giải phóng ngay tại trận địa... Ở tất cả các địa phương, việc huy động hàng chục vạn thanh niên, dân công nam, nữ xuống đường, bất chấp lửa đạn ác liệt của địch, suốt nhiều tháng của chiến dịch Mậu Thân 1968, thực sự là một cuộc Đồng khởi lần thứ hai.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân được các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là Đài truyền hình Mỹ, phản ánh, Hình ảnh cuộc chiến tranh được đưa đến tận từng gia đình Mỹ hầu như hàng ngày. Điều đó không chỉ khiến phong trào phản chiến ở Mỹ mạnh thêm (vì số lính Mỹ thương vong gia tăng, triển vọng của chiến tranh càng lu mờ...) mà còn làm nhiều quan chức Mỹ - trước đây bảo thủ, hiếu chiến - nay thay đổi cách nhìn: bi quan, thất vọng, đòi ngưng ném bom miền Bắc, không tăng quân Mỹ ở miền Nam, ngưng chiến lược tìm - diệt và bình định, giải quyết chiến tranh bằng thương thuyết với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để sớm đưa nước Mỹ thoát khỏi chiến tranh.

Kết quả cuối cùng của chiến dịch Mậu Thân 1968 đã khẳng định: “Mậu Thân” là một mắt xích quan trọng trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, mở ra một giai đoạn mới, giai đoạn tiến tới giành thắng lợi quyết định. Chiến dịch Mậu Thân vẫn mãi là dấu ấn ở tầm vóc chiến lược.

 Chung lại, bài học về Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968 rất phong phú, đã được nhiều công trình nghiên cứu phân tích sâu sắc. Trong đó chúng ta có thể nhấn mạnh 3 điểm chủ yếu sau:

 1). Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968 đã làm nổi bật hai nét đặc sắc: Tinh thần táo bạo, quả cảm, hy sinh, xả thân tuyệt vời của các chiến sĩ giải phóng; và trình độ “bản lĩnh, trí tuệ” sắc sảo, từ trong chỉ đạo đến tổ chức thực hiện nhiệm vụ chiến dịch trong cuộc chiến đấu không cân sức với địch của quân dân Việt Nam. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tổng kết về Cuộc Tổng tiến công và nổi dây Mậu Thân rất sâu sắc: “…Trong chiến tranh, thực tiễn địch ta biến chuyển mau lẹ, biết địch biết ta không những lúc đầu mà phải bám sát quá trình chuyển biến, Xuất phát từ thực tiễn luôn luôn vận động, với tinh thần tích cực, chủ động và cơ động, linh hoạt, tìm ra quy luật, kịp thời điều chỉnh chủ trương cho sát đúng, luôn luôn hành động đúng quy luật thì nhất định tránh được khuyết điểm, giành được thắng lợi to lớn hơn, trọn vẹn hơn”.

2).Trong chiến dịch Mậu Thân, tuy bên quân Giải phóng chịu tổn thất khá nặng, - nhất là trong đợt 2 khi yếu tố bất ngờ đã không còn (tháng 5/1968) -, nhưng cuộc tấn công đồng loạt, táo bạo, liên tục của quân Giải phóng đã tác động rất mạnh vào ý chí xâm lược giới cầm quyền Mỹ, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, bước đầu của quá trình Mỹ phải đàm phán với bên cách mạng, ký Hiệp định Paris (1973) công nhận Độc lập, Thống nhất, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam, rút quân viễn chinh Mỹ ra khỏi Việt Nam… Và sự sụp đổ của chế độ tay sai Sài Gòn mấy năm sau là hệ lụy tất yếu…

 

 

 

 

 

 

 

 

Lễ ký kết Hiệp định Paris ngày 27/1/1973.

Nói cách khác, cuộc tấn công Mậu Thân đã đạt thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, là một khâu trọng yếu của quá trình: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

3).Vai trò của quần chúng nhân dân vùng đô thị, mặc dầu sống dưới chế độ kềm kẹp khắc nghiệt giữa trung tâm đầu não chiến tranh địch, nhưng vẫn một lòng ủng hộ kháng chiến, một bộ phận quan trọng đã dũng cảm “nổi dậy”, tiếp sức với lực lượng vũ trang giải phóng, là chỗ dựa của quân giải phóng, cả trước, trong và sau khi chiến dịch kết thúc.

 

 

 

 

 

 

Các má, các chị chuẩn bị lương thực cho những người ra phía trước, MT 1968.

5. Trách nhiệm và Nhiệm vụ trước mắt:

logo logo